Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.
Không gian trưng bày gồm 4 nội dung chính: Nghề làm mão, mặt nạ - kỹ thuật chế tác thủ công truyền thống; Hình tượng nhân vật - những nhân vật trong sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật và lễ hội Khmer; Hiện vật và câu chuyện văn hóa - những câu chuyện phía sau mỗi hiện vật; Không gian trải nghiệm - kết nối, tương tác và lan tỏa giá trị văn hóa cộng đồng.
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long Thạch Bồi cho biết, trong bức tranh văn hóa đa màu sắc, đồng bào Khmer Nam Bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng đã đóng góp nhiều giá trị di sản quý báu, mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh và nghệ thuật truyền thống. Sinh động và đặc sắc nhất chính là nghề làm mão, mặt nạ phục vụ các loại hình nghệ thuật dân gian như Dù kê, Rô băm, múa Chhay-dăm và các nghi lễ truyền thống.
Nhân dân, du khách tham quan không gian trưng bày chuyên đề.
Nghề làm mão, mặt nạ là nghề thủ công truyền thống, ra đời cách đây hơn hai thế kỷ. Mão, mặt nạ là sản phẩm chứa đựng các giá trị lịch sử văn hóa, thể hiện bản sắc của cộng đồng dân tộc Khmer, quyết định sự trường tồn cho một số loại hình nghệ thuật biểu diễn thông qua việc góp phần xây dựng các không gian văn hóa có liên quan.
Nghề làm mão, mặt nạ đã và đang đóng góp cho cộng đồng những sản phẩm thủ công đặc trưng, cùng góp phần gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời cũng là cơ sở để sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Các giá trị mà sản phẩm mão, mặt nạ mang lại về đời sống vật chất và tinh thần của người dân giúp cho nghề tiếp tục tồn tại lâu dài.
Du khách tham quan không gian trưng bày chuyên đề.
Hiện nay, những tri thức, kinh nghiệm về làm mão, mặt nạ vẫn đang được bà con Khmer tiếp nối. Các loại hình nghệ thuật sử dụng mão, mặt nạ và các không gian văn hóa có liên quan cũng được quần chúng nhân dân quan tâm, kế thừa và phát triển.
Các nghệ nhân nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật mới vào chế tác mão, mặt nạ vừa giữ được nét đẹp truyền thống, vừa tiếp thu hiệu quả chất liệu của thời đại. Từ những giá trị được bảo tồn và phát huy, nghề chế tác mão, mặt nạ của đồng bào dân tộc Khmer đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.
Biểu diễn trích đoạn “Sứ quân Ongkhot lập kế sách chiếm pháp bảo của vua chằn Krong riêp” (trong truyện cổ tích Ream Kê của đồng bào Khmer) tại chương trình.
Với thông điệp trưng bày “Sự cần mẫn sáng tạo và tài năng đã gìn giữ và phát huy giá trị độc đáo nghề làm mão, mặt nạ”, Bảo tàng Vĩnh Long mong muốn giới thiệu, tôn vinh nghệ nhân và những giá trị di sản văn hóa nghệ thuật độc đáo trong nghề làm mão và mặt nạ của đồng bào Khmer, góp phần nâng cao ý thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của 54 dân tộc trong cộng đồng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, tạo ra một không gian trải nghiệm văn hóa mới lạ, sinh động, bổ ích cho du khách khi đến Bảo tàng Đắk Lắk.
Trưng bày dự kiến diễn ra tới cuối tháng 10/2026, tại Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk. Bên cạnh tham quan không gian trưng bày, tại chương trình, đại biểu cùng nhân dân, du khách được thưởng thức trích đoạn: Sứ quân Ongkhot lập kế sách chiếm pháp bảo của vua chằn Krong riêp (trong truyện cổ tích Ream Kê của đồng bào Khmer) do đội Rô-bam Giồng Lức, tỉnh Vĩnh Long biểu diễn; trải nghiệm nghề thắt lá dừa, nghề làm cốm dẹp.../.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn