Khi những thửa ruộng bậc thang khoác lên mình sắc vàng óng ả cũng là lúc bản Tả Lèng, xã Tả Lèng, Lai Châu trở nên rộn ràng hơn.
Khung cảnh ruộng bậc thang Tả Lèng, xã Tả Lèng, Lai Châu vào mùa lúa chín.
Giữa không gian núi rừng Tây Bắc, Ngày hội “Mùa vàng Tả Lèng - Hương lúa giữa non cao” lần đầu được tổ chức đã mang đến cho người dân và du khách những trải nghiệm đặc sắc về mùa gặt, văn hóa và đời sống của đồng bào dân tộc Mông nơi đây.
Sáng 6/9, từ những con đường dẫn vào bản Tả Lèng, từng nhóm du khách tìm về trong tiết trời thu dịu mát. Trên những sườn núi, ruộng bậc thang đang vào độ chín rộ, nối tiếp nhau uốn lượn theo địa hình, tạo thành những mảng màu vàng xanh đan xen giữa núi rừng.
Từ trên cao nhìn xuống, khung cảnh ruộng bậc thang Tả Lèng đẹp như tranh vẽ, màu vàng của lúa trải dài trên các sườn núi. Đây là thời điểm đẹp nhất trong năm để khám phá vẻ đẹp của vùng đất này, khi hương lúa mới hòa cùng gió núi, tiếng cười nói của người dân và không khí náo nức của ngày hội.
Ruộng bậc thang Tả Lèng, xã Tả Lèng, Lai Châu vào mùa lúa chín đẹp như bức tranh vẽ.
Ngay từ sáng sớm, những thiếu nữ Mông trong trang phục truyền thống rực rỡ đã có mặt tại không gian lễ hội. Sắc váy áo nổi bật giữa màu vàng của đồng ruộng tạo nên một bức tranh sinh động, thu hút sự chú ý của du khách. Nhiều người không bỏ lỡ cơ hội ghi lại những khoảnh khắc đẹp giữa mùa vàng, đồng thời tham gia các hoạt động trải nghiệm do địa phương tổ chức.
Chị Nguyễn Thị Hân, một du khách đến từ Phú Thọ chia sẻ, ruộng bậc thang ở Tả Lèng trải rộng bên những dãy núi cao, tạo cảnh quan rất đẹp. Nếu được đầu tư bài bản, kết hợp phát triển du lịch cộng đồng, nơi đây hoàn toàn có thể trở thành điểm đến hấp dẫn của Lai Châu.
Vè đẹp của thiếu nữ Mông tại Ngày hội “Mùa vàng Tả Lèng - Hương lúa giữa non cao”.
“Sau khi đi chợ phiên San Thàng, du khách có thể đến Tả Lèng tham quan, nghỉ dưỡng và trải nghiệm cuộc sống giữa ruộng bậc thang. Tôi nghĩ đây sẽ là một hành trình rất thú vị”, chị Hân bày tỏ.
Không chỉ hấp dẫn bởi cảnh quan, điểm nhấn của Ngày hội “Mùa vàng Tả Lèng - Hương lúa giữa non cao” là những hoạt động gắn với đời sống sản xuất và văn hóa truyền thống của đồng bào Mông.
Người dân gặt lúa chín tại ruộng bậc thang Tả Lèng.
Lễ cúng cơm mới được tổ chức trang trọng là một trong những nghi lễ quan trọng của ngày hội. Đây là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn đối với đất trời, tổ tiên và cầu mong mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm, đủ đầy. Nghi lễ cũng góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Trong không khí ngày mùa, các phần thi gặt lúa, đập lúa thủ công diễn ra sôi nổi. Những công việc vốn quen thuộc với người dân vùng cao được tái hiện ngay trên cánh đồng đang rộ mùa lúa chín, giúp du khách có cơ hội trực tiếp trải nghiệm một phần cuộc sống lao động của đồng bào Mông.
Một mùa vàng bội thu tại ruộng bậc thang Tả Lèng.
Anh Thào A Chư, người dân bản Tả Lèng bày tỏ niềm tự hào khi quê hương có những thửa ruộng bậc thang đẹp. Anh mong muốn tỉnh tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ người dân phát triển du lịch cộng đồng, qua đó tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và thu hút ngày càng nhiều du khách đến với địa phương.
Bên cạnh các hoạt động gắn với mùa gặt, ngày hội còn có chương trình giao lưu văn nghệ, trò chơi dân gian, tham quan, trải nghiệm ruộng bậc thang và check-in giữa không gian mùa vàng. Qua đó, du khách không chỉ được ngắm cảnh mà còn có dịp tìm hiểu sâu hơn về phong tục, tập quán, đời sống và văn hóa của đồng bào Mông.
Các đội tranh tài phần thi gặt lúa tại ngày hội.
Đập lúa thủ công của người Mông tại ngày hội.
Ông Phong Vĩnh Cường, Chủ tịch UBND xã Tả Lèng cho biết, thông qua ngày hội, xã mong muốn giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất và người Tả Lèng đến đông đảo du khách, đồng thời từng bước khai thác tiềm năng du lịch, hình thành các sản phẩm du lịch cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Ngày hội được tổ chức trong mùa lúa chín không chỉ tạo thêm một điểm nhấn cho du lịch Lai Châu mà còn mở ra hướng đi mới trong việc khai thác giá trị cảnh quan và văn hóa bản địa. Nếu được đầu tư đồng bộ, những thửa ruộng bậc thang, không gian bản làng, lễ hội truyền thống và đời sống thường ngày của người Mông có thể trở thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần kéo dài thời gian lưu trú và tăng trải nghiệm cho du khách.
Các bản ở xã Tả Lèng thi gặt lúa tại Ngày hội “Mùa vàng Tả Lèng - Hương lúa giữa non cao”.
Trong cái nắng vàng phủ xuống những sườn núi, giữa sắc vàng của lúa chín, những mái nhà, con đường và trang phục truyền thống của đồng bào Mông tạo nên một bức tranh vùng cao đầy sức sống.
Đông đảo người dân và du khách tham gia ngày hội.
Tả Lèng hôm nay không chỉ có một mùa vàng để ngắm. Nơi đây còn có hương lúa, có văn hóa, có con người và những câu chuyện về cuộc sống nơi non cao. Đó cũng chính là những giá trị có thể tạo nên sức hút riêng cho một điểm đến đang từng bước được đánh thức trên bản đồ du lịch Lai Châu./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn