Tối 30/8, Lễ hội Hát then - Đàn tính xã An Lạc năm 2026 chính thức khai mạc tại sân vận động Nà Ó, Khu du lịch sinh thái Khê Rỗ, xã An Lạc, tỉnh Bắc Ninh, thu hút sự tham gia của các nghệ nhân, diễn viên, người dân địa phương và nhiều đoàn nghệ thuật quần chúng đến giao lưu. Đây là dịp tôn vinh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, quảng bá tiềm năng văn hóa, du lịch sinh thái cộng đồng của địa phương.
Các tiết mục Hát Then, Đàn Tính tại buổi khai mạc.
Phó Chủ tịch UBND xã An Lạc, Trưởng Ban Tổ chức lễ hội Phùng Đức Minh nêu rõ, hát then, đàn tính từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày ở An Lạc. Đó không chỉ là một loại hình nghệ thuật truyền thống mà còn là “hồn quê, là ký ức, là sợi dây gắn kết cộng đồng”. Những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông được trao truyền qua các thế hệ, góp phần giúp mỗi người dân thêm gắn bó với quê hương, bản làng và cội nguồn.
Lễ hội năm nay được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, giao lưu và thể thao, trong đó điểm nhấn của đêm khai mạc là chương trình liên hoan văn nghệ gồm 15 tiết mục được dàn dựng công phu, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, tình yêu quê hương, đất nước. Cùng với đó, hoạt động cắm trại của 9 thôn tạo nên không gian sinh hoạt cộng đồng, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tại địa phương. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động giao lưu văn nghệ, giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của các địa phương.
Từ lễ hội, địa phương mong muốn hát then, đàn tính tiếp tục được truyền dạy cho thế hệ trẻ, được duy trì thường xuyên trong các thôn, bản và trở thành một phần sinh động trong đời sống văn hóa cộng đồng. Các nghệ nhân, câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ được kỳ vọng tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong truyền dạy, sáng tạo và lan tỏa những giá trị truyền thống.
Việc tổ chức lễ hội nhằm giới thiệu, quảng bá tiềm năng văn hóa, du lịch sinh thái cộng đồng tại thôn Nà Ó và Khu du lịch sinh thái Khe Rỗ, góp phần thúc đẩy du lịch và kinh tế địa phương. Thông qua hoạt động văn hóa cộng đồng, địa phương hướng tới việc biến các giá trị truyền thống thành nguồn lực phục vụ phát triển, tạo thêm cơ hội sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân.
Các tiết mục Hát Then, Đàn Tính tại buổi khai mạc.
Lễ hội Hát then - Đàn tính xã An Lạc năm 2026 là một hoạt động văn hóa, văn nghệ độc đáo để cộng đồng nơi đây cùng nhìn lại, trân trọng và tiếp tục trao truyền những giá trị đã được vun đắp qua nhiều thế hệ, giúp tiếng then, tiếng tính tiếp tục ngân vang, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và quảng bá hình ảnh con người, quê hương An Lạc.
Ngày 31/8 sẽ tiếp tục diễn ra các hoạt động giao lưu văn nghệ tại các trại, gồm hát then, hát soong hao, hát đối giao duyên, quan họ liền anh, liền chị; các trò chơi dân gian kết hợp với Đại hội Thể dục thể thao xã An Lạc lần thứ I./.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn