Với đồng bào Thái ở miền Tây Nghệ An, ngày Quốc khánh 2/9 từ lâu đã trở thành một dịp lễ đặc biệt.
Tại nhiều bản làng người Thái ở các xã Châu Bình, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong, Nga My, Bình Chuẩn, Yên Hòa, Tương Dương, Nhôn Mai, Mỹ Lý…, cờ Tổ quốc được treo tại nhiều gia đình và dọc các tuyến quốc lộ 48, 16, 48C, 7… Người dân chỉnh trang nhà cửa, chuẩn bị thực phẩm, làm các món ăn truyền thống để đón ngày lễ lớn của đất nước. Mâm cơm ngày Tết Độc lập thường có những sản vật quen thuộc của núi rừng và đời sống sản xuất như xôi nếp, thịt gà, cá, rau rừng cùng các món ăn truyền thống. Sau nghi lễ cúng gia tiên, các thành viên quây quần bên mâm cơm, thăm hỏi họ hàng, hàng xóm. Ở nhiều bản, các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao cũng được tổ chức, tạo nên không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng.
Bản Na Ngân có hơn 150 hộ, gần 740 nhân khẩu, nằm trong thung lũng thuộc vùng đệm đại ngàn Pù Huống. Những ngày đầu tháng 9, trở lại Na Ngân dễ dàng cảm nhận không khí đón Tết Độc lập rộn ràng của bà con nơi đây.
Trên những con đường trong bản rực rỡ sắc đỏ của cờ Tổ quốc, nhiều gia đình treo cờ trước hiên những ngôi nhà sàn truyền thống. Người dân tất bật chuẩn bị mâm cơm với những món ăn quen thuộc như xôi nếp cẩm, thịt gà, hoa quả, rượu cần, rượu men lá để làm lễ cúng. Con cháu đi làm ăn xa, đi học cũng tranh thủ trở về sum họp cùng gia đình. Đàn ông trong bản í ới gọi nhau mổ trâu, bò, lợn; phụ nữ ngâm gạo nếp, chuẩn bị lá dong để gói bánh chưng đen, bánh sừng trâu. Bên hiên những ngôi nhà sàn, các hoạt động văn nghệ, múa hát, chơi khắc luống, đánh cồng chiêng, giao lưu cộng đồng được tổ chức, tạo nên không khí vui tươi, rộn ràng trong những ngày nghỉ lễ.
Trong những căn nhà sàn truyền thống, người cao tuổi, người có uy tín trong bản kể cho con cháu nghe về ý nghĩa ngày Quốc khánh 2/9, về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những câu chuyện lịch sử được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần bồi đắp niềm tự hào và tạo nên ký ức chung của cộng đồng.
Ông Lương Văn Ùn, Trưởng bản Na Ngân, xã Nga My cho biết, dịp Tết Độc lập, gia đình nào cũng chuẩn bị mâm cơm truyền thống để dâng cúng tổ tiên. Lễ vật được chuẩn bị chu đáo, thể hiện sự thành kính của con cháu đối với ông bà, tổ tiên và lòng biết ơn đối với Bác Hồ, đất nước. Ngoài mâm cúng, mỗi gia đình còn chuẩn bị một bữa cơm đoàn tụ, mời anh em, họ hàng đến giao lưu, cùng thưởng thức các món ăn truyền thống và uống rượu cần. Các gia đình trong bản thường chung nhau mổ trâu, bò, lợn để lấy thịt làm cỗ cúng và sử dụng trong những ngày nghỉ lễ. Từ chiều 1/9, người dân Na Ngân đã chung nhau mổ 5 con bò và 3 con lợn. Gà được mỗi gia đình chuẩn bị để làm lễ vật trên mâm cỗ cúng.
Sau bữa cơm gia đình, mọi người lại sang nhà nhau thăm hỏi, chúc Tết, gần như đi hết các gia đình trong bản. Không khí Tết Độc lập vì thế lan tỏa từ nhà này sang nhà khác, từ dòng họ này sang dòng họ khác. Những cuộc gặp gỡ, những bữa cơm gia đình tạo nên không gian sinh hoạt cộng đồng của bản làng. Qua đó, người dân thêm gần gũi, gắn bó, tăng cường tình thân, tinh thần tương trợ và sự đoàn kết trong cộng đồng. Các trò chơi, sinh hoạt văn hóa truyền thống như đánh cồng chiêng, chơi khắc luống, nhảy sạp, múa hát cũng được tổ chức. Các bà, các mẹ, chị em phụ nữ trong bản mặc những bộ trang phục thổ cẩm truyền thống. Giữa núi rừng đại ngàn, tiếng cồng chiêng, khắc luống vang vọng hòa cùng tiếng nói cười, tạo nên không khí ngày hội đặc trưng của bản Thái. Tết Độc lập cũng là dịp nhiều giá trị văn hóa truyền thống của người Thái được tái hiện trong đời sống cộng đồng.
Tại các bản làng, cụm dân cư, tiểu vùng văn hóa Thái như Văng Muộn, Pá Tý, Cành Toong (xã Yên Na), Na Kho, Na Ngân, Xốp Kho (xã Nga My), Mường Chon (xã Bình Chuẩn)…, các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian được tổ chức, thu hút đông đảo người dân tham gia. Những điệu múa, tiếng cồng chiêng, khắc luống cùng các trò chơi như nhảy sạp, kéo co, bắn nỏ, tó mặng… tạo nên không khí vui tươi trong ngày hội.
Bà Bùi Thị Thoa, bản Na Kho, xã Nga My nói, Tết Độc lập có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa cộng đồng. Đây là một phần trong đời sống văn hóa của người Thái, được trao truyền qua nhiều thế hệ; đồng thời là dịp để gia đình, dòng họ sum họp, bà con trong bản gặp gỡ, giao lưu và thêm gắn bó.
Ông Khoàng Văn Van, người có uy tín bản Na Kho, xã Nga My chia sẻ, với bà con người Thái, ngày Quốc khánh không chỉ là dịp mừng đất nước phát triển, cầu mong bình an mà còn nhắc nhở con cháu về niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm với bản làng và quê hương.
Từ những nghi lễ trong mỗi gia đình đến các hoạt động cộng đồng, Tết Độc lập đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa của đồng bào Thái ở miền Tây Nghệ An. Mỗi gia đình thêm trân trọng những giá trị của hòa bình, độc lập, gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống. Với thế hệ trẻ, đây là dịp để hiểu thêm về lịch sử đất nước, về những giá trị mà các thế hệ cha ông đi trước đã tạo dựng, vun đắp./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn