Dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, thôn Lô Lô Chải nép mình giữa những dãy núi đá tai mèo nơi cực Bắc Tổ quốc. Qua bao thế hệ, trong những ngôi nhà trình tường, người Lô Lô Đen vẫn gìn giữ tiếng nói, trang phục, tiếng trống đồng cùng những nghi lễ gắn với gia đình, dòng họ. Giữa nhịp sống đang đổi thay, những giá trị ấy tiếp tục được trao truyền từ người già sang người trẻ, hiện diện trong từng đường kim, mũi chỉ, lời kể và nếp sinh hoạt của cộng đồng.
Lễ cúng Tổ tiên là một trong những di sản thiêng liêng nhất của người Lô Lô Đen. Mỗi khi tiếng trống đồng vang lên, con cháu trong dòng họ lại cùng hướng về những người đã khuất, bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong sự che chở, bình an. Năm 2026, lễ cúng được tổ chức ngày 30/8 tại thôn Lô Lô Chải với chủ đề "Lô Lô Chải - Điểm hẹn di sản, kết nối cội nguồn". Việc lễ hội diễn ra trong một ngôi làng đang trở thành điểm du lịch nổi tiếng đặt ra yêu cầu phát huy giá trị di sản nhưng vẫn giữ được phần thiêng, tính nguyên bản và vai trò chủ thể của cộng đồng.
Giữ phần thiêng của lễ cúng Tổ tiên
Những ngày cuối tháng 8, trong các ngôi nhà trình tường ở Lô Lô Chải, người dân chuẩn bị trang phục, lễ vật và những vật dụng cần thiết cho ngày Lễ. Các nghệ nhân kiểm tra lại đôi trống đồng, người cao tuổi nhắc con cháu về trình tự nghi thức; những phụ nữ trong bản sửa từng đường viền, mảng màu trên bộ trang phục truyền thống. Công việc chuẩn bị diễn ra cẩn trọng, bởi với người Lô Lô Đen, đây trước hết là dịp gia đình, dòng họ tưởng nhớ tổ tiên chứ không đơn thuần là hoạt động trình diễn phục vụ du khách.
Ông Sình Dỉ Chai, người trực tiếp thực hiện nghi lễ cúng Tổ tiên tại Lô Lô Chải cho biết, nghi lễ đã hiện diện trong đời sống cộng đồng từ nhiều đời nay. Đồng bào quan niệm tổ tiên luôn dõi theo, che chở cho con cháu. Bởi vậy, lễ cúng là dịp các gia đình, dòng họ bày tỏ lòng biết ơn với những người đã khuất, cầu mong sức khỏe, bình an và cuộc sống thuận hòa.
Theo ông Sình Dỉ Chai, mỗi lời cúng, nhịp trống và động tác trong nghi lễ đều mang ý nghĩa riêng, được các thế hệ trao truyền. Người thực hiện phải hiểu phong tục, nhớ đúng trình tự và giữ được sự trang nghiêm. Điều ông mong muốn nhất là lớp trẻ được trực tiếp quan sát, tìm hiểu và học lại nghi lễ, để những tri thức cha ông để lại không bị mai một theo thời gian.
Lễ cúng Tổ tiên của người Lô Lô tại xã Lũng Cú được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012. Nghi lễ gồm 3phần chính: Lễ hiến tế, lễ tưởng nhớ và lễ tiễn đưa tổ tiên. Trong đó, trống đồng giữ vai trò đặc biệt, dẫn dắt các nghi thức và tạo nên không gian linh thiêng. Tiếng trống hòa cùng bước múa của đoàn "Người cỏ" - những người được quan niệm là cầu nối dẫn đường để tổ tiên trở về với con cháu. Các nghi thức được thực hành theo trình tự chặt chẽ, thể hiện lòng thành kính cùng những quan niệm lâu đời của cộng đồng về nguồn cội, gia đình và dòng họ.
Trong lễ hội năm 2026, phần lễ tiếp tục được tái hiện theo nguyên mẫu nghi thức truyền thống. Bên cạnh đó là các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian, trình diễn nghề thêu, may trang phục và giới thiệu sản phẩm thủ công, ẩm thực địa phương. Không gian trải nghiệm giúp người dân, du khách hiểu thêm về đời sống văn hóa của người Lô Lô Đen, song phần lễ vẫn được xác định là nội dung cốt lõi, phải bảo đảm sự trang nghiêm và đúng với truyền thống.
Để lễ hội diễn ra an toàn, chu đáo, xã Lũng Cú đã rà soát cơ sở vật chất, chỉnh trang cảnh quan, vệ sinh môi trường, chuẩn bị không gian văn hóa và các điều kiện đón khách; đồng thời chú trọng an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy. Yêu cầu xuyên suốt được địa phương đặt ra là giữ đúng nghi thức, không thương mại hóa phần lễ và bảo đảm cộng đồng người Lô Lô giữ vai trò chủ thể.
Ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lũng Cú nhấn mạnh, Lễ cúng Tổ tiên phải được tổ chức trang nghiêm, đúng nghi thức truyền thống và gắn với truyền dạy cho thế hệ trẻ Lô Lô Đen. Các hoạt động giới thiệu, trải nghiệm cần được bố trí phù hợp, giúp du khách hiểu sâu hơn về văn hóa bản địa nhưng không làm biến đổi bản chất của di sản. Người dân vừa là chủ nhân thực hành nghi lễ, vừa trực tiếp giới thiệu những giá trị do cha ông để lại.
Yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi Lô Lô Chải đang trở thành điểm đến hấp dẫn trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Ngôi làng gây ấn tượng bởi những ngôi nhà trình tường, mái ngói âm dương, hàng rào đá, vườn đào, vườn lê cùng sắc màu trên trang phục của phụ nữ Lô Lô Đen. Du lịch cộng đồng phát triển đã mở thêm cơ hội sinh kế, giúp nhiều gia đình làm dịch vụ lưu trú, giới thiệu ẩm thực và sản phẩm thủ công. Tuy nhiên, khi lượng khách tăng, một nghi lễ thiêng rất dễ bị nhìn nhận như sản phẩm biểu diễn. Nếu giản lược hoặc thay đổi tùy tiện trình tự nghi thức, di sản có thể vẫn còn hình thức nhưng dần mất đi chiều sâu văn hóa. Giữ phần thiêng của Lễ cúng Tổ tiên vì thế cũng là giữ nét riêng làm nên sức hấp dẫn bền lâu của Lô Lô Chải.
Trao truyền mạch nguồn cho thế hệ trẻ
Trong một ngôi nhà trình tường nằm bên con đường dẫn vào trung tâm bản, chị Vương Thị Xuyến cẩn thận hoàn thiện những đường thêu trên bộ trang phục nữ. Từng mảng vải nhỏ được cắt ghép, sắp xếp hài hòa; mỗi đường viền, họa tiết được tạo nên bằng sự kiên trì và đôi bàn tay khéo léo. Để hoàn thành một bộ trang phục truyền thống, người phụ nữ Lô Lô phải trải qua nhiều công đoạn, nắm được cách phối màu, tạo hoa văn đã được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Chị Xuyến cho biết, trước đây con gái trong bản thường học thêu từ mẹ và bà ngay khi còn nhỏ. Ngày nay, người trẻ có nhiều lựa chọn về học tập, việc làm, không phải ai cũng dành được nhiều thời gian cho nghề truyền thống. Du lịch phát triển đã giúp sản phẩm thêu, may của người Lô Lô được nhiều người biết đến, tạo thêm thu nhập và khơi dậy niềm tự hào của phụ nữ trong bản. Chị đang hướng dẫn con gái từng đường kim, mũi chỉ, trước hết để con biết tự làm trang phục của dân tộc mình, sau đó mới nghĩ đến việc tạo sản phẩm phục vụ du khách.
Cùng với nghề thêu, việc trao truyền tiếng nói, dân ca, điệu múa, kỹ thuật đánh trống và kiến thức về nghi lễ đang được cộng đồng quan tâm. Trong ngày hội, người trẻ tham gia đội văn nghệ, hỗ trợ nghệ nhân chuẩn bị không gian, tìm hiểu trình tự nghi thức và giới thiệu phong tục với du khách. Qua đó, di sản bước ra khỏi ký ức của người cao tuổi để tiếp tục hiện diện trong đời sống thế hệ hôm nay.
Em Vàng Mí Pó, một thanh niên thôn Lô Lô Chải chia sẻ, qua mỗi lần tham gia Lễ cúng Tổ tiên, em được nghe người già kể thêm về nguồn gốc dòng họ và ý nghĩa các nghi thức. Trực tiếp chuẩn bị cho ngày lễ, trò chuyện với nghệ nhân và giới thiệu văn hóa với du khách giúp người trẻ hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình. Theo Vàng Mí Pó, dù đi học, đi làm ở đâu, thanh niên Lô Lô vẫn cần biết tiếng nói, trang phục và phong tục của dân tộc để nhớ mình là ai, quê hương mình ở đâu; đồng thời có thể kể đúng, giới thiệu đúng về văn hóa Lô Lô.
Chủ tịch UBND xã Lũng Cú Trần Đức Chung cho biết, địa phương xác định bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ cộng đồng và phục vụ chính đời sống cộng đồng. Việc tổ chức lễ hội tạo điều kiện để nghệ nhân thực hành, người cao tuổi truyền dạy và thanh, thiếu niên trực tiếp tham gia. Xã khuyến khích người dân giữ gìn kiến trúc truyền thống, tiếng nói, trang phục, nghề thủ công, dân ca, trò chơi dân gian; đồng thời xây dựng sản phẩm du lịch trên cơ sở tôn trọng văn hóa bản địa.
Theo ông Trần Đức Chung, Lô Lô Chải có lợi thế lớn về cảnh quan, bản sắc và vị trí nằm gần Cột cờ quốc gia Lũng Cú. Phát triển du lịch mang lại nguồn thu, góp phần cải thiện đời sống người dân nhưng cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ môi trường, cảnh quan và không gian văn hóa. Nếu chỉ chú trọng dịch vụ mà để bản sắc phai nhạt, điểm đến sẽ mất đi giá trị riêng. Vì vậy, địa phương tiếp tục vận động người dân làm du lịch văn minh, thân thiện, giữ gìn kiến trúc và cảnh quan; phát triển sản phẩm từ những giá trị sẵn có của cộng đồng, tránh sân khấu hóa hoặc làm mới di sản một cách tùy tiện.
Cùng với Lễ cúng Tổ tiên của người Lô Lô Đen và các hoạt động phục vụ du khách dịp Quốc khánh 2/9, xã Lũng Cú đang chuẩn bị cho Lễ hội Hoa Tam giác mạch dự kiến diễn ra vào tháng 10/2026 trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Những hoạt động văn hóa, du lịch nối tiếp nhau tạo thêm điểm nhấn cho mùa thu - đông, góp phần quảng bá hình ảnh Lũng Cú giàu bản sắc đến du khách trong nước và quốc tế. Trong hành trình ấy, văn hóa bản địa chính là chiều sâu tạo nên sức hấp dẫn lâu dài của vùng đất cực Bắc.
Giữa nhịp phát triển của một điểm đến ngày càng được nhiều du khách biết tới, người Lô Lô Đen ở Lô Lô Chải vẫn dành cho Lễ cúng Tổ tiên sự thành kính như bao đời nay. Tiếng trống đồng tiếp tục được người già truyền lại cho người trẻ; những bộ trang phục vẫn được làm nên từ đôi bàn tay khéo léo của phụ nữ trong bản; câu chuyện về gia đình, dòng họ vẫn được kể cho con cháu qua mỗi mùa lễ. Từ sự tiếp nối ấy, di sản hiện diện tự nhiên trong đời sống cộng đồng, để mỗi người con Lô Lô dù đi đâu cũng nhớ về nguồn cội và cùng gìn giữ những giá trị của cha ông nơi địa đầu cực Bắc của Tổ quốc./.
Tên tự gọi: Lô Lô.
Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.
Nhóm địa phương: Lô Lô hoa và Lô Lô đen.
Dân số: 4.541 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.
Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang.
Hoạt động sản xuất: Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.
Ăn: Người Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.
Mặc: Phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp. Trang trí trên y phục bằng hoa văn chắp ghép những mảng vải màu to. Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong.
Ở: Tuỳ từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).
Phương tiện vận chuyển: Người Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.
Quan hệ xã hội: Người Lô Lô sống tập trung trong các bản tương đối ổn định. Tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét.
Có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.
Cưới xin: Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.
Ma chay: Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.
Thờ cúng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.
Lễ tết: Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt. Ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng Bảy...
Lịch: Họ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật.
Học: Khoảng thế kỷ thứ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Văn nghệ: Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Truyện kể rằng: xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.
Trống đồng với tư cách là nhạc khí chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian của cộng đồng. Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.
Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Chỉ có trong đám ma mới đánh trống đồng. Ngày thường, người ra chôn trống dưới đất ở nơi sạch sẽ, kín đáo.
Theo cema.gov.vn