Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.
Từ niềm đam mê đến người giữ nghề
Đôi tay thoăn thoắt chuyển từ chiếc cồng sang bộ trống rồi đến những nhạc cụ khác, anh Chau Vanh Tha (26 tuổi, ở xã Tri Tôn) khiến những người chứng kiến không khỏi bất ngờ bởi khả năng sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc ngũ âm.
Sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bào dân tộc Khmer Tri Tôn (An Giang), tiếng nhạc ngũ âm đã trở nên quen thuộc với Vanh Tha từ thuở nhỏ. Mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây, lễ Sen Dolta hay Ok Om Bok, âm thanh của dàn nhạc vang lên tại chùa lại khiến Chau Vanh Tha say mê, đứng hàng giờ để lắng nghe. Anh kể rằng mình bắt đầu học chơi nhạc ngũ âm tại chùa. Khi đó, nhà chùa mời thầy từ Campuchia sang truyền dạy. Ban đầu, việc học không dễ dàng bởi mỗi loại nhạc cụ có kỹ thuật riêng, người học phải nhớ từng nhịp, từng bài. Chỉ cần đánh lệch một nhịp, cả dàn nhạc có thể mất đi sự hòa hợp.
Các thành viên dàn nhạc ngũ âm phối hợp biểu diễn, tạo nên những thanh âm đặc trưng của văn hóa Khmer.
Để chơi thành thạo, Vanh Tha dành nhiều thời gian luyện tập, kiên trì sửa từng nhịp gõ, từng động tác chơi nhạc cụ. Theo anh, nhạc ngũ âm đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên. Mỗi người đảm nhận một phần, nhưng để tạo nên một bản nhạc hoàn chỉnh, người chơi phải biết lắng nghe và hòa mình với cả dàn nhạc. “Chơi nhạc ngũ âm không hề dễ, bởi mỗi nhạc cụ có nhịp điệu và cách chơi khác nhau, người chơi phải phối hợp thật ăn ý với nhau khi biểu diễn. Muốn chơi nhạc ngũ âm lâu dài, trước hết phải có niềm đam mê và yêu thích”, anh chia sẻ.
Từ một cậu bé say mê tiếng nhạc ngũ âm nơi sân chùa, nay Vanh Tha nay đã trở thành một trong những người trẻ thường xuyên tham gia biểu diễn nhạc ngũ âm tại các lễ hội văn hóa và nghi lễ Phật giáo của đồng bào Khmer trong và ngoài địa phương. Điều đáng quý là những kiến thức và kinh nghiệm có được qua quá trình học tập, biểu diễn nhạc ngũ âm được Vanh Tha tận tình chia sẻ, truyền lại cho các bạn trẻ đang theo học tại các chùa Khmer ở Tri Tôn.
Người trẻ trở về truyền lại kiến thức
Các nghệ nhân say mê biểu diễn nhạc ngũ âm phục vụ người dân và du khách tại Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang năm 2026.
Để tiếng nhạc ngũ âm được gìn giữ và lan tỏa, ngày càng có nhiều thanh niên Khmer được đào tạo bài bản, sau đó trở về quê hương để truyền lại nghề cho thế hệ trẻ. Tốt nghiệp chuyên ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống Khmer Nam Bộ tại Trường Đại học Trà Vinh năm 2021, anh Chau Soc Kung (sinh năm 1997, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang) trở về quê hương, mang những kiến thức được học để truyền lại cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ tiếng nhạc ngũ âm của đồng bào Khmer.
Tại chùa Snaydonkum (xã Ô Lâm), Chau Soc Kung trực tiếp hướng dẫn các học viên làm quen với nhạc ngũ âm. Từ những nhịp đầu tiên còn vụng về, các em từng bước làm quen với từng loại nhạc cụ, cách giữ nhịp và quan trọng hơn là cách phối hợp với những thành viên khác trong dàn nhạc. Với Chau Soc Kung, truyền dạy nhạc ngũ âm không đơn thuần là hướng dẫn các em cách đánh từng loại nhạc cụ. Người học còn phải hiểu bài bản, nắm được vai trò của mình và biết phối hợp với cả dàn nhạc.
Theo anh Chau Soc Kung, người chơi nhạc ngũ âm thường khoảng 25 tuổi trở lên mới có đủ kỹ năng, bản lĩnh và kinh nghiệm để tham gia biểu diễn trong những lễ lớn của đồng bào Khmer. Vì vậy, việc học cần được bắt đầu từ sớm và duy trì trong thời gian dài. “Ngày càng có nhiều bạn trẻ tìm đến học nhạc ngũ âm. Tôi thường nói với các em rằng học không chỉ để biết chơi nhạc, mà còn là cách giữ gìn văn hóa của ông bà. Sau này, chính các em sẽ tiếp tục truyền lại cho thế hệ sau. Muốn nhạc ngũ âm được gìn giữ lâu dài, trước hết phải để thế hệ trẻ hiểu, yêu và chủ động tiếp nhận”, anh Chau Soc Kung chia sẻ.
Sự trở về của những người trẻ được đào tạo bài bản như Chau Soc Kung đang tạo thêm một cầu nối quan trọng giữa truyền thống và thế hệ hôm nay. Tuy nhiên, để những người trẻ có nơi học, có người dạy và có điều kiện thực hành, phía sau đó còn có sự chung tay của các nhà chùa và cộng đồng.
Các nhạc công trẻ biểu diễn nhạc ngũ âm, góp phần trao truyền di sản văn hoá Khmer.
Nhiều năm trước, nhận thấy thanh niên trong cộng đồng Khmer biết chơi nhạc ngũ âm ngày càng ít, trong khi nhu cầu sử dụng dàn nhạc trong các nghi lễ, lễ hội vẫn còn, Hòa thượng Chau Ty (trụ trì chùa Soài So, xã Tri Tôn, An Giang) quyết định mời giáo viên từ Campuchia sang truyền dạy nhạc ngũ âm. Mỗi lớp có khoảng tám học viên. Số lượng không nhiều, nhưng theo Hòa thượng Chau Ty, điều quan trọng là các em đến học bằng sự tự nguyện và niềm yêu thích.
“Nhà chùa không quan trọng có nhiều hay ít học viên, mà quan trọng là có những người thật sự yêu thích và muốn gắn bó lâu dài với nhạc ngũ âm. Muốn bảo tồn thì phải có người học, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không đào tạo lớp kế cận, sau này sẽ khó có người tiếp tục biểu diễn. Học nhạc ngũ âm không dễ, vì vậy phải yêu văn hóa dân tộc mới có thể theo học lâu dài”, Hòa thượng Chau Ty chia sẻ.
Tại chùa Soài So, các học viên học nhạc ngũ âm không chỉ tập cách sử dụng từng nhạc cụ mà còn được tìm hiểu ý nghĩa của từng bài nhạc, từng nghi lễ. Qua đó, các em hiểu rằng mỗi giai điệu không tồn tại độc lập mà gắn với đời sống văn hóa, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng Khmer.
Để những thanh âm tiếp tục ngân vang
Biểu diễn nhạc ngũ âm góp phần quảng bá nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ.
Đồng bào Khmer chiếm khoảng 8% dân số An Giang sống tập trung ở vùng biên giới. Trong đời sống văn hóa Khmer, nhạc ngũ âm hiện diện trong nhiều lễ hội và các nghi thức Phật giáor. Dàn nhạc ngũ âm gồm năm nhóm nhạc cụ cơ bản như: nhóm gõ bằng kim loại (Chiêng, Cồng), nhóm gõ bằng da (Trống skor), nhóm gõ bằng gỗ (Rôneat), nhóm hơi (Sralai, Khloy) và nhóm dây (Trô-sao, Chà-pây).
Âm nhạc ngũ âm không chỉ thể hiện kỹ năng nghệ thuật tinh tế mà còn phản ánh quan niệm âm dương, ngũ hành, và triết lý hài hòa giữa con người với tự nhiên. Dàn nhạc này thường được biểu diễn trong các nghi lễ Phật giáo Nam tông Khmer, các lễ hội truyền thống như Chol Chnam Thmay, Sen Dolta, Ok Om Bok, cũng như trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại các chùa Khmer An Giang.
Hiện hầu hết các chùa Khmer tại An Giang đều duy trì một dàn nhạc ngũ âm, nhưng số lượng nghệ nhân am hiểu sâu về kỹ thuật trình diễn và chế tác nhạc cụ đang giảm dần. Đội ngũ nghệ nhân ngày càng lớn tuổi, lớp trẻ kế thừa còn ít. Hoạt động truyền dạy chủ yếu mang tính tự phát, thiếu giáo trình và không gian luyện tập thường xuyên. Bên cạnh đó, nhiều nhạc cụ xuống cấp, tư liệu về bài bản và kỹ thuật trình diễn chưa được lưu giữ, số hóa đầy đủ.
Trước thực tế đó, UBNDA tỉnh An Giang đã ban hành Đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030” xác định bảo tồn nhạc ngũ âm phải lấy cộng đồng làm trung tâm. Để bảo tồn nhạc ngũ âm, ông Lê Văn Phước, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, Đề án chú trọng hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề; mở các lớp dạy nhạc ngũ âm cho thanh thiếu niên tại chùa Khmer, trường học và trung tâm văn hóa. Qua đó, những thanh âm ngũ âm không chỉ được gìn giữ mà tiếp tục hiện diện trong đời sống, giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và chủ động tiếp nối di sản văn hóa của cộng đồng Khmer Nam Bộ.
Theo ông Lê Văn Phước, Đề án cũng chú trọng việc bảo tồn sẽ gắn với phát triển du lịch văn hóa. Nhạc ngũ âm được đưa vào các lễ hội, chương trình biểu diễn và các sản phẩm du lịch trải nghiệm tại những địa phương có đông đồng bào Khmer. Qua đó, du khách có thể trực tiếp thưởng thức, tìm hiểu về nhạc cụ và những giá trị văn hóa phía sau từng giai điệu.
Đề án cũng kỳ vọng khi nhạc ngũ âm trở thành một phần của sản phẩm du lịch, tạo thêm không gian biểu diễn, tăng thu nhập cho nghệ nhân và cộng đồng, từ đó tạo động lực để người dân tiếp tục gìn giữ di sản. Qua đó, thế hệ trẻ có thêm cơ hội tiếp cận, yêu thích và chủ động tiếp nối những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn