![]() |
| Ảnh minh họa |
Theo chia sẻ của ông Sáng, quê quán ông ở tận xã Tân Lý Đông, Châu Thành, Tiền Giang. Nhà đông anh em, ít đất sản xuất, đời sống những năm miền Nam mới hoàn toàn giải phóng rất khó khăn. Bản thân ông vào làm công nhân Lâm trường Trương Văn Sanh (tiền thân xã Thạnh Mỹ ngày nay) từ những năm đầu thập niên 80 của Thế kỷ trước. Tại đây, ông được lãnh đạo lâm trường cấp 0,5 ha đất hoang làm nơi dựng nhà ở.
Cũng theo ông Sáng, thời đó khu vực Đồng Tháp Mười còn hoang vu lắm. Nhiều nơi chưa in mấy dấu chân người. Mùa khô hạn nước phèn trong xanh nhìn thấu tận đáy. Loại nước này không thể dùng ăn uống, sinh hoạt được. Mùa mưa lũ nước từ thượng nguồn tràn về nhấn chìm đường sá, nhà cửa, cơ sở hạ tầng dưới làn nước ngầu đục phù sa.
Tuy nhiên, đằng sau những khó khăn đó, ông Sáng nhận ra tiềm năng lớn của miền đất thiên nhiên đầy khắt nghiệt này. Do vậy, hai năm sau, khoảng năm 1984, ông đưa vợ con vào lập nghiệp, trở thành một trong những người đầu tiên hưởng ứng chủ trương khai hoang vỡ hóa Đồng Tháp Mười của Đảng và Nhà nước ta.
Ông Cao Văn Sáng cho hay: Những ngày đầu tiên vất vả, cực khổ trăm bề. Đường sá giao thông, kênh mương, cơ sở hạ tầng thiếu thốn. Vợ chồng khai hoang đến đâu, trồng khoai mỡ (khoai sọ) đến đó. Ngoài thời gian mùa vụ thì quay sang giăng lưới, giăng câu bắt cá, đặt bẫy chuột đồng, rồi cắt đưng, nhổ bàng bán đắp đổi qua ngày. Nguồn lợi lâm sản, thủy sản ngày đó rất dồi dào, phong phú. Cá đồng các loại, chim, chuột, rắn, rùa… nhiều vô kể. Về sản xuất, đất phèn nhưng độ phì nhiêu, mầu mỡ rất cao, phù hợp trồng nhiều loại cây trồng đặc hữu: khoai mỡ, tràm, bạch đàn, các loại rau màu khác, rồi khóm (dứa),…Khoai mỡ ông trồng đạt năng suất đến 20 tấn/ ha.
Theo dòng tâm sự của ông Sáng, đến năm 1990, các lâm trường, nông trường trên địa bàn giải thể, chuẩn bị đón làn sóng di dân ồ ạt khai thác miền Đồng Tháp Mười, mở đường cho việc thành lập huyện Tân Phước. Thời điểm này, gia đình ông Sáng được cấp thêm 1,5 ha. Như vậy, ông có tổng cộng 2 ha đất sản xuất. Nhận thấy dứa (khóm) dễ trồng, thích hợp với thổ nhưỡng vùng Đồng Tháp Mười, đầu ra thuận lợi, ông Sáng bắt dầu chuyển đổi từ trồng khoai mỡ 1 vụ/năm sang chuyên canh khóm (dứa).
Những năm đầu ít vốn, ông Sáng chịu khó đi xin hoặc mua rẻ cây giống ở những hộ dân đã trồng trước quanh vùng. Đến kỳ thu hoạch bán cho thương lái hoặc cho Công ty Rau quả Long Định (Tiền Giang) nay là Công ty Cổ phần rau quả xuất khẩu Tiền Giang. Mặc dù thời điểm đó giá chỉ 700 – 800 đồng/kg nhưng với năng suất 20 tấn/ha, lợi nhuận từ cây trồng đặc hữu này hơn hẳn nhiều cây con khác trong vùng. Có tiền trang trải những nhu cầu thiết yếu cuộc sống, phần còn lại gia đình ông tích cóp mua thêm đất đai.
Cứ thế, như “con tằm nhả tơ, như con ong làm mật”, sau mỗi mùa vụ bội thu gia đình ông dành dụm tậu thêm một ít đất sản xuất mở rộng diện tích khóm chuyên canh. Sau hơn 32 năm kể từ khi bắt đầu vào lập nghiệp tại Lâm trường Trương Văn Sanh và tiếp tục gắn bó với huyện Tân Phước cho đến nay, gia đình ông đã có quỹ đất trồng khóm chuyên canh lên đến 8,5 ha.
Ông Cao Văn Sáng cho biết, trung bình mỗi năm, ông đạt sản lượng dứa thương phẩm cung ứng thị trường từ 150 - 180 tấn quả. Trong năm nay, giá dứa luôn giữ ở mức cao, trung bình cả năm đạt 6.000 - 7.000 đ/kg, gia đình ông đạt giá trị sản xuất khoảng 1 tỷ đồng, trừ chi phí còn lãi ròng từ 600 - 800 triệu đồng.
Kinh nghiệm nhiều năm trồng dứa chuyên canh ông Cao Văn Sáng đúc kết, muốn đạt năng suất, sản lượng cao, phẩm chất tốt tham gia thị trường nông dân cần chú trọng áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thâm canh. Trước đây, bà con thường cho dứa ra trái theo mùa vụ tự nhiên, trồng và thu hoạch liên tiếp 6 – 7 vụ (6 – 7 năm), khi dứa đã già cỗi mới phá bỏ trồng lại…Hạn chế của tập quán trên là: dứa năng suất thấp, chất lượng trái kém, sâu bệnh tấn công…
![]() |
| Ảnh minh họa |
Hiện tại gia đình ông Sáng thâm canh theo khoa học, trong đó chú trọng khâu làm đất, chọn giống tốt, xử lý cho trái ra hoa và thu hoạch theo ý muốn, tránh thời điểm thu hoạch rộ thường bị mất giá và lợi nhuận không cao. Chỉ sau ba vụ (ba năm) ông vỡ đất ra, cải tạo và trồng lại mới. Phương pháp này mang lại ưu thế hơn hẳn tập quán canh tác cũ ở chỗ: năng suất cao, chất lượng trái tốt, giá trị kinh tế lớn…Ngoài ra, cũng cần chú ý mật độ trồng không quá dày nhưng cũng không quá thưa. Theo ông Sáng, mật độ 30.000 -35.000 cây dứa/ha.
Với vai trò là Chủ tịch Hội nông dân xã Thạnh Mỹ, kinh nghiệm trên, ông Cao Văn Sáng đúc kết và áp dụng không chỉ cho riêng mình mà còn chuyển giao cho bà con trong vùng trồng dứa chuyên canh xã Thạnh Mỹ để cùng thâm canh thành công.
Ông Nguyễn Văn Thọ, Bí thư Đảng ủy xã Thạnh Mỹ biểu dương ông Cao Văn Sáng về thành tích sản xuất – kinh doanh giỏi vừa là gia đình văn hóa tiêu biểu của địa phương.
Ông Huỳnh Văn Bườn, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tân Phước, cho biết, từ diện tích nhỏ, manh mún không đáng kể những năm thập niên 80 của Thế kỷ trước, hiện nay, huyện có vùng dứa chuyên canh trên 16.000 ha, lớn nhất tỉnh Tiền Giang cung ứng nguồn nguyên liệu quan trọng cho tiêu dùng và chế biến xuất khẩu. Thành quả đó, có sự đóng góp to lớn của người nông dân cần cù, chịu khó và năng động của nông dân Cao Văn Sáng./.

