Kỹ thuật trồng Bồ đề

Kỹ thuật trồng Bồ đề
Tên khoa học: Styrax tonkinensis (Pierre) Craib. ex Hardw.

Họ thực vật: Bồ đề (Styracaceae)

1. Đặc điểm hình thái

Cây gỗ trung bình, cao 18-20m, có thể trên 20m, đường kính ngang ngực 20-25cm. Thân cây màu trắng, tương đối tròn, vỏ mỏng. Tán cây mỏng và thưa. Rễ cọc phát triển yếu, ngược lại hệ rễ bàng phát triển mạnh và tập trung trên 80% ở tầng đất mặt 0-20cm, do vậy độ phì tầng đất mặt có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của Bồ đề.

Gỗ Bồ đề dùng chủ yếu trong công nghiệp giấy và làm diêm. Ảnh: vafs.gov.vn
Gỗ Bồ đề dùng chủ yếu trong công nghiệp giấy và làm diêm. Ảnh: vafs.gov.vn

2. Đặc tính sinh thái

Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thường xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xen Tre, Vầu, Nứa. Phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Tây Bắc, Việt Bắc xuống đến miền Tây Thanh Hóa và còn lác đác tới biên giới Nghệ An – Lào. Thường gặp nhiều nhất ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, song cũng có mặt ở Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, dọc theo phần trên của các lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Mã. Bồ đề được trồng ở vùng Trung tâm Bắc Bộ nhiều năm nay.

Bồ đề thường mọc tự nhiên sau nương rẫy hoặc sau lúc rừng vừa mới bị phá để phơi đất trống, đất còn tốt, trên hầu hết các đất khác nhau về đá mẹ, trừ đất đá vôi. Ở đó, Bồ đề mọc thuần loại hoặc xen lẫn với nứa, cây gỗ.

Bồ đề là loài cây tiên phong, đòi hỏi nhiều ánh sáng, chịu rét tương đối khỏe, nhưng không chịu được nhiệt độ cao (nhất là cây non) và khô hạn. Vì vậy chỉ thấy chúng có ở các vùng ẩm còn mang tính chất đất rừng rõ rệt. Bồ đề là loài cây mọc nhanh, chu kỳ khai thác ngắn 10-12 năm.

Bồ đề có thời kỳ rụng hết lá, ngừng sinh trưởng vào khoảng từ tháng 11-12 đến tháng 1-2 năm sau. Đặc điểm rụng lá, tán thưa thảm mục ít là các nhược điểm cơ bản của rừng Bồ đề để phòng hộ bảo vệ môi trường. Có 2 loại Bồ đề, loại nhiều nhựa mọc ở vùng cao, loại ít nhựa mọc ở vùng thấp là loại thường được trồng để lấy gỗ.

Bồ đề thích hợp với nhiệt độ trung bình năm 19-23oC, lượng mưa 1500-2000 mm/năm, số tháng khô không quá 3 tháng, không bị ảnh hưởng của gió Lào và phơn khô nóng.

Trồng thích hợp trên các loại đất feralit vàng, đỏ vùng đồi, núi thấp, có tầng phong hóa dày và thành phần cơ giới  tương đối nặng phát triển trên các đá mẹ gnai, phiến thạch mica, philit, trầm tích nêôgen, pocphiarit, phù sa cổ. Có thể mở rộng trồng trên đất feralit phát triển trên các đá mẹ riôlit, acgilit, phiến thạch sét. Cây mọc khỏe nơi đất sâu ẩm; không ưa đất đá vôi, đất đọng nước, đất bị glây; sinh trưởng kém nơi đất đã thoái hóa, đất cát và đất đá ong.

3. Giống và tạo cây con

Thu hái hạt giống:

Chỉ thu hái quả ở những cây 5 tuổi trở lên. Cây không sâu bệnh, không lệch tán, không mọc ở bìa rừng, không cụt ngọn. Tháng 9-10 quả chín, khi chín vỏ quả màu bạc có điểm phớt trắng, phần đầu quả có vết nứt. Vỏ hạt màu đen thẫm hoặc vàng da bò. Dùng cù nèo hoặc tay bẻ cành nhỏ dưới 1cm có quả.

Xử lý, bảo quản hạt giống:

Quả sau khi thu hái phải được xử lý ngay, không để quá 2 ngày. Loại bỏ tạp chất, trộn quả với cát có độ ẩm 20-22% (1 phần quả/1 phần cát theo thể tích). Vun thành luống dài 10m rộng 1,5m cao 0,15m. Tưới nước định kì 3 ngày 1lần bằng bình hoa sen lỗ nhỏ, lượng nước 40-50 lít cho một luống. Hàng ngày đảo xới 2 lần (sáng, chiều). Xới xong san phẳng, không nén chặt. Xử lý ban đầu như vậy khoảng 35-40 ngày kể từ khi hái.

Khi vỏ quả chuyển từ màu vàng xanh và cứng sang màu xám và mềm xốp thì quả đạt yêu cầu chất lượng xử lý ban đầu và chuyển sang bảo quản ổn định.

Sàng quả ra khỏi cát và lại trộn quả trong cát ấm 20-22% theo tỷ lệ 3 phần quả/1 phần cát (tính theo thể tích). Vun thành luống dài tùy điều kiện, rộng 1,5m, cao 0,6, không nén chặt. Phủ luống một lớp cát ẩm dày khoảng 3-4cm. Hàng tháng chăm sóc một lần, vào ngày định kỳ. Đảo quả, tưới ẩm 40-60 lít nước cho một luống quả dài 10m cao 0,6m rộng 1,5m, sau đó lại đánh luống như cũ. Hàng năm kiểm tra vào tháng 10 nếu tỷ lệ nảy mầm giảm 10% so với tỷ lệ nảy mầm ban đầu (trên 70%) thì đem sử dụng ngay.

Gieo ươm:

Dùng bầu hình trụ không đáy, dài 12cm, đường kính 6-7cm, khối lượng 0,3 đến 0,35kg/bầu để ươm cây giống.

Đất ruột bầu là 79% lớp đất mặt (sâu 0-10cm) của rừng cây gỗ hoặc giang tốt + 20% phân chuồng + 0,5% supe lân + 0,5% đạm sunfat.

Xếp bầu theo luống, cách nhau 2-3cm. Giữa các bầu lèn đất. Trên có dàn che bóng 50% ở độ cao 30cm.

Cấy hạt đã nảy mầm vào bầu. Hạt nảy mầm đến đâu đem cấy ngay, không làm gãy mầm.

Giữ ẩm thường xuyên cho bầu. Khi cây có 2 lá mầm, rỡ bỏ dàn che, chăm sóc đến lúc đem trồng.

Tiêu chuẩn cây con đem trồng:

Cây ươm 45-60 ngày tuổi, cao 10-15cm, có 5-7 lá, không bị sâu bệnh hại.

4. Trồng và chăm sóc rừng

Đất trồng Bồ đề được phân thành 6 hạng dựa vào cấp độ thoái hóa đất rừng theo tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 3131-79 ban hành kèm theo quyết định số 657 ngày 27/12/1979 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, nó tùy thuộc vào đặc điểm phẫu diện đất và thảm thực bì chỉ thị độ thoái hóa của đất. Trong đó, độ dày đất đóng vai trò chủ đạo.

Hạng I: Đất rừng nguyên trạng và thoái hóa rất nhẹ (đất tầng A dày trên 15cm, mùn trên 4%, tơi xốp);

Hạng II: Đất rừng thoái hóa nhẹ (đất tầng A dày trên 10cm, mùn 3,5-4%, xốp);

Hạng III: Đất rừng thoái hóa trung bình (đất tầng A dày trên 10cm, mùn 3-3,5%, xốp vừa);

Hạng IV: Đất rừng thoái hóa khá nặng (đất tầng A dày trên 5cm, mùn 2-3%, xốp kém);

Hạng V: Đất rừng thoái hóa nặng (đất tầng A dày dưới 5cm, 1-2% mùn, chặt);

Hạng VI: Đất rừng thoái hóa rất nặng (không có tầng A, mùn dưới 1%).

Đất hạng V và VI thường không sử dụng để trồng Bồ đề.

Đất hạng I trồng mật độ 1600 cây/ha (2,5×2,5m) đến 2000 cây/ha (2,5x2m), hạng II trồng 2000 cây/ha đến 2500 cây/ha (2x2m), hạng III trồng 2500 cây/ha đến 3300 cây/ha (1,8×1,8m) hoặc (2×1,5m).

Trên đồi bát úp, dốc ngắn, phát trắng toàn bộ; nơi đồi núi dốc trên 25o, cần chừa dải rừng trên đỉnh rộng ít nhất 10m mỗi bên sườn; ở nơi sườn dốc dài trên 100m thì cần chừa lại những băng rừng rộng 6-10m theo đường đồng mức, cách nhau 50-60m. Đốt thực bì những nơi đã phát trước khi cuốc hố 10-15 ngày.

Có thể trồng Bồ đề bằng cách gieo hạt thẳng, trồng bằng cây có bầu hay trồng cây thân cụt tùy theo thời vụ và đất đai và điều kiện, trong sản xuất thường gieo hạt thẳng.

Hạt giống Bồ đề phải đảm bảo theo quy định tại các tiêu chuẩn nhà nước TCVN 3127-79, TCVN 3128-79, TCVN 3129-79 và TCVN 3130-79 ban hành kèm theo quyết định số 657/QĐ ngày 27/12/1979 của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.

- Gieo hạt thẳng:

Cuốc hố với kích thước 20x20x30cm. Sau khi cuốc hố, gieo ngay. Mỗi hố gieo 5-6 hạt đặt cách nhau 5cm, lấp dày 2cm.

Thời vụ gieo từ tháng 10 đến tháng 12, không gieo hạt quá muộn tới tháng 2 dương lịch.

- Trồng bằng cây có bầu:

Đào hố với kích thước 30x30x30cm.

Thời vụ trồng vào các tháng 1, 2, 3. Khi trồng không được làm vỡ bầu, xé bỏ vỏ bầu.

- Trồng bằng cây thân cụt:

Cây thân cụt được lấy từ cây gieo ươm đảm bảo tiêu chuẩn là có tuổi 10 đến 12 tháng, cao 1,2-1,5m, đường kính gốc 1-2cm. Cắt bỏ thân, để lại một đoạn dài 3-5cm tính từ cổ rễ.

Đào hố rộng 35-40cm, sâu 30cm. Trồng vào tháng 1-2. Khi trồng không để rễ bị cong, lấp đất kín cổ rễ, chỉ chừa lại phần thân trên mặt đất từ 2-3cm.

Sau 7-10 ngày cây đâm chồi mới. Theo dõi sau một tháng nếu thấy tỷ lệ cây sống không quá 85% thì phải tiến hành trồng dặm ngay trong mùa gieo trồng năm đó. Dặm bằng cây con có bầu.

Chăm sóc rừng 3 năm liền:

- Năm thứ nhất 4 lần:

Lần 1: Sau 15-20 ngày đối với cây có bầu, khi cây có 3-5 lá. Phá váng, xới nhẹ quanh hố. Tỉa để lại 1-2 chồi khỏe đối với cây thân cụt.

Lần 2: Khi cây cao 25-30cm, phát cỏ dại, mức độ phát quang mạnh yếu tùy thuộc thời tiết và mức độ sinh trưởng của cây con mà quyết định. Chừa lại những cây lá rộng tái sinh, bụi Giang, Nứa không ảnh hưởng đến cây trồng, tỉa tiếp chỉ để lại một chồi khỏe đối với cây thân cụt.

Lần 3: Khi cây cao 60-70cm, phát cỏ dại, cắt dây leo. Tỉa để lại 1 cây/hố đối với biện pháp gieo hạt thẳng.

Lần 4: Vào tháng 10-11 phát cỏ dại, dây leo, cây bụi chèn ép. Cuốc lấp đất sâu 10-15cm, bán kính 60cm, vun đất vào gốc.

- Năm thứ hai: Cây trồng gần khép tán, chăm sóc 2 lần. Nội dung chăm sóc gồm chặt cây leo, cây bụi chèn ép, xới đất quanh gốc rộng 60cm và vun gốc cây.

- Năm thứ ba: Chặt dây leo, tỉa thưa hạ bớt mật độ (nếu cần). Chặt bỏ cây bị sâu bệnh hại, song phải để lại tất cả những cây tái sinh không ảnh hưởng đến Bồ đề. Xới đất quanh gốc rộng 60cm và vun gốc cây.

5. Khai thác, sử dụng

Tỉa thưa rừng Bồ đề trồng thuần loại áp dụng quy trình QTN22-82 ban hành kèm theo quyết định số 474/QĐ/Kth ngày 14/5/1982 của Bộ Lâm nghiệp. Rừng đưa vào tỉa thưa khi có độ tàn che 0,7 trở lên, đã xuất hiện cây tỉa cành tự nhiên, thảm tươi sắp suy tàn. Rừng Bồ đề trồng cung cấp nguyên liệu giấy phải được tỉa thưa 2 lần từ khi khép tán đến khi khai thác chính ở tuổi 10. Tỉa lần đầu vào tuổi 2, lần 2 vào tuổi 3.

Đối với đất hạng I trồng 2000 cây/ha, tỉa thưa lần đầu với cường độ 50-55%, giữ lại 900-1000 cây có đường kính 6,5-7,5cm; tỉa thưa lần 2 với cường độ 25-35%, giữ lại 650-700 cây có đường kính 9,5-10cm.

Đối với đất hạng II trồng 2500 cây/ha, tỉa thưa lần đầu với cường độ 50-55%, giữ lại 1100-1250 cây có đường kính 5,5-6,5cm; tỉa thưa lần 2 với cường độ 35-40%, giữ lại 700-750 cây có đường kính 8,5-9,5cm.

Đối với đất hạng III trồng 3300 cây/ha, tỉa thưa lần đầu với cường độ 50-55%, giữ lại 1500-1650 cây có đường kính 5-6cm; tỉa thưa lần 2 với cường độ 500%, giữ lại 750-800 cây có đường kính 7-8,5cm.

Gỗ Bồ đề mềm, nhẹ, thuộc nhóm VIII, thớ mịn và đều, co ít, dễ xẻ, dễ chẻ nhỏ, bóc thành những tấm mỏng và không bị cong vênh, song dễ gãy. Gỗ Bồ đề đồng nhất, không lõi, tỷ lệ vỏ thấp, rất thuận tiện trong công nghiệp giấy. Bồ đề được dùng chủ yếu trong công nghiệp giấy và làm diêm.

Gỗ Bồ đề có nhựa thơm gọi là cánh kiến trắng (an tức hương, Benzoin), là nguyên liệu được dùng trong y học, chế biến định hương trong công nghệ nước hoa, chống ôi khét bảo quản mỡ béo, điều chế axit benzoic, trong công nghiệp chế biến véc ni và một số loại sơn đặc biệt.
 Theo vafs.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã A Lưới 3, A Lưới 4 (thành phố Huế) đang dần hình thành với quy mô khang trang, hiện đại. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên gồm: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Phường Đông Thành, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng đặc sản thanh trà của địa phương với hai loại chủ yếu là ngọt và chua - loại trái cây từng được xác lập Kỷ lục Việt Nam với 135 món ẩm thực độc đáo được chế biến từ nguyên liệu này.

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Với quyết tâm xây dựng vị thế cho hạt tiêu sạch, nhà nông ở tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác theo hướng hữu cơ vi sinh. Chính sự thay đổi từ tư duy đến hành động chính tại mỗi nông hộ trồng hồ tiêu đang góp phần nâng tầm giá trị nông sản địa phương, đồng thời mở ra hướng đi làm giàu bền vững.

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Giữa núi rừng biên giới, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi bản Piêng Vai, xã Mỹ Lý (tỉnh Nghệ An) đang rất nỗ lực mang ánh sáng tri thức đến với bà con. Trong lớp học xóa mù chữ do Đồn Biên phòng Mỹ Lý tổ chức, những người phụ nữ Mông lần đầu tiên cầm bút, tập ghép vần, viết tên mình.

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Hơn 10 năm qua, nhờ chăn nuôi ngựa bạch, gia đình ông Phùng Văn Lén ở thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất, tỉnh Lạng Sơn đã có của ăn của để. Thu nhập hằng năm ổn định, cao gấp nhiều lần so với làm kinh tế đồi rừng, giúp gia đình ông xây được nhà kiên cố và mua sắm đầy đủ trang thiết bị phục vụ đời sống, sinh hoạt.

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn đang mở ra hướng đi mới cho nhiều địa phương. Tại Hưng Yên, hướng đi này bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế và xã hội rõ rệt.

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), nghề nuôi ong bạc hà từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao, trở thành sinh kế quan trọng dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp, nghề nuôi ong truyền thống đang được nâng tầm nhờ ứng dụng công nghệ 4.0, góp phần bảo tồn giá trị bản địa, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định thương hiệu mật ong bạc hà Cao nguyên đá Đồng Văn.

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Tại xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, mô hình nuôi lươn không bùn trong hồ xi măng phát triển mạnh. Mô nình này được đánh giá là dễ thực hiện, ít tốn diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nuôi qui mô lớn, đạt lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.

Sâm Núi Dành - mở hướng thoát nghèo cho người nông dân

Sâm Núi Dành - mở hướng thoát nghèo cho người nông dân

Ẩn mình giữa núi đồi trung du xanh ngát, sâm Nam núi Dành tại tỉnh Bắc Ninh đang dần khẳng định vị thế của mình, không chỉ là cây dược liệu quý mà còn là biểu tượng cho sự phát triển bền vững của địa phương. Với giá trị dược liệu quý giá, gắn với lịch sử, văn hóa lâu đời, cùng triển vọng kinh tế vượt bậc, sâm Nam núi Dành xứng đáng được gọi là "vàng xanh" của đất Bắc Ninh, giúp nhiều hộ dân nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Mang nghề về bản gieo cơ hội đổi thay

Mang nghề về bản gieo cơ hội đổi thay

Từ lợi thế diện tích rừng lùng, nứa rộng lớn cùng định hướng rõ ràng của chính quyền địa phương, xã Châu Tiến, tỉnh Nghệ An đã chủ động khai thác tiềm năng từ rừng, gắn đào tạo nghề với tạo việc làm và sinh kế bền vững. Cách làm này đã giúp người dân vùng cao nơi đây hình thành những mô hình kinh tế hiệu quả, tạo tiền đề cho phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới vùng cao.

Từ canh tác nương rẫy đến những mô hình kinh tế xanh

Từ canh tác nương rẫy đến những mô hình kinh tế xanh

Tỉnh Quảng Trị có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số với cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, canh tác lạc hậu. Những năm qua, Bộ đội Biên phòng đã đồng hành, sát cánh cùng với bà con xây dựng nhiều mô hình kinh tế mới.

Ổn định sinh kế trên nương đá vùng cực Bắc

Ổn định sinh kế trên nương đá vùng cực Bắc

Vào độ tháng 12, cái lạnh vùng cao bắt đầu bao trùm những dãy núi đá tai mèo ở Lũng Cú (Tuyên Quang). Trên sườn núi cheo leo, bà con các thôn, bản phấn khởi bước vào vụ thu hoạch gừng và khoai sâm. Tiếng cuốc đất, tiếng cười nói rộn ràng giữa gió rét, những củ gừng vàng ruộm, khoai sâm căng tròn lần lượt hiện ra từ khe đá, mang theo niềm vui vụ mùa và hy vọng đổi thay sinh kế cho người dân vùng cực Bắc.

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Với ý chí vươn lên và khát vọng làm giàu ngay trên mảnh đất biên cương, anh Lý Đức Dân (người dân tộc Tày, thôn Nà Toong, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) đã trở thành một trong 36 thanh niên tiêu biểu được Trung ương Đoàn tuyên dương năm 2025.

Mô hình trình diễn nông nghiệp công nghệ cao vùng biên mang lại hiệu quả

Mô hình trình diễn nông nghiệp công nghệ cao vùng biên mang lại hiệu quả

Thời gian qua, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp Khu vực 15 (tỉnh Đồng Nai) đã tích cực triển khai xây dựng các mô hình trình diễn nông nghiệp công nghệ cao tại vùng biên. Mỗi năm, Trung tâm thực hiện từ 14-15 mô hình trình diễn, góp phần phổ biến những phương thức canh tác tiên tiến cho nhiều hộ dân.

Hiệu quả tích cực từ chuyển đổi số trong hợp tác xã

Hiệu quả tích cực từ chuyển đổi số trong hợp tác xã

Tại tỉnh Cà Mau, thời gian qua, lĩnh vực kinh tế tập thể hợp tác xã được đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước khẳng định vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, để nâng cao hiệu quả hoạt động, các hợp tác xã của tỉnh Cà Mau đang thực hiện nhiều giải pháp, trong đó chú trọng gắn liên kết chuỗi giá trị với chuyển đổi số.

Chú trọng giảng dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số

Chú trọng giảng dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số

Đến năm 2030, giáo dục và đào tạo tỉnh Lâm Đồng phấn đấu được đổi mới căn bản theo hướng cơ bản chuẩn hóa, hiện đại hóa; bảo đảm mọi người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận giáo dục chất lượng. Đó là mục tiêu của Chương trình “Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc Tây Nguyên” giai đoạn 2026- 2030, được Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành ngày 3/12.

'Biến' rơm thành tiền

'Biến' rơm thành tiền

Thay vì đốt bỏ rơm sau khi thu hoạch lúa như thói quen trước đây, vài năm gần đây, nông dân Đồng Tháp có thêm một khoản thu nhập từ việc bán rơm, trồng nấm rơm, sản xuất phân hữu cơ từ rơm…

Khám phá mùa su nụ trên nóc nhà miền Tây

Khám phá mùa su nụ trên nóc nhà miền Tây

Giữa không gian se lạnh, những giàn su nụ (quả su su non) xanh mướt, sum suê trái khẽ đung đưa trong nắng sớm, thu hút du khách dừng chân chụp ảnh. Không chỉ được ngắm, du khách còn có thể tự tay hái những trái su nụ rồi luộc lên thành món su su luộc chấm chao - món ăn giản dị, chuẩn vị thiên nhiên Núi Cấm níu chân những vị khách phương xa khó tính nhất.

Hàng trăm hộ dân Bạch Thông thoát nghèo nhờ thương hiệu 'Quýt Bắc Kạn'

Hàng trăm hộ dân Bạch Thông thoát nghèo nhờ thương hiệu 'Quýt Bắc Kạn'

Giữa tiết trời cuối năm, những đồi quýt trải dài ở xã Bạch Thông lại rực rỡ một màu vàng ươm của quýt chín. Với sản lượng hàng nghìn tấn mỗi năm và thương hiệu "Quýt Bắc Kạn" đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, cây quýt không chỉ là cây ăn quả truyền thống mà đã trở thành cây chủ lực, mang lại thu nhập ổn định và góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương.

Kịp thời hướng dẫn người dân vùng lũ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Kịp thời hướng dẫn người dân vùng lũ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Chiều 28/11, tại xã Hữu Lũng (Lạng Sơn), Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lạng Sơn tổ chức Tọa đàm hướng dẫn bà con các xã vừa chịu ảnh hưởng nặng bởi thiên tai, ngập lụt như: Yên Bình, Vân Nham, Hữu Lũng, Thiện Tân, Cai Kinh những biện pháp khôi phục sản xuất nông nghiệp sau mưa lũ.

Tiếp nhận thủ tục hành chính lưu động - 'điểm sáng' trong giải quyết hành chính công

Tiếp nhận thủ tục hành chính lưu động - 'điểm sáng' trong giải quyết hành chính công

Ya Ly là một xã nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi, được thành lập theo Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hình thành từ việc sáp nhập các xã Ya Ly, Ya Tăng, Ya Xiêr của huyện Sa Thầy (cũ). Do địa bàn rộng, nhiều thôn, làng nằm xã trung tâm xã nên người dân gặp không ít khó khăn trong việc nộp các hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính. Vì vậy, để thuận tiện cho bà con các thôn ở xa, Ủy ban nhân dân xã Ya Ly đã triển khai thực hiện tiếp nhận hồ sơ lưu động trên địa bàn xã.

Sơn La phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi

Sơn La phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi

Thời gian qua, tỉnh Sơn La xuất hiện các đợt rét, khu vực vùng núi cao xảy ra rét đậm, rét hại kèm mưa. Trước tình hình đó, các địa phương trong tỉnh đã chủ động tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại.

Truyền cảm hứng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho học sinh qua môn Lịch sử

Truyền cảm hứng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho học sinh qua môn Lịch sử

Gần hai thập kỷ gắn bó với Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Dân tộc nội trú Hà Tĩnh, cô giáo Nguyễn Thị Cẩm Tú - giáo viên môn Lịch sử - luôn kiên trì bám trường, bám lớp, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy. Sự tận tụy, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của cô đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trở thành tấm gương điển hình tiên tiến của nhà trường. Với những đóng góp bền bỉ ấy, cô vinh dự được Thủ tướng Chính phủ trao tặng Bằng khen.

'Hồi sinh' hồ tiêu Gia Lai nhờ canh tác thuận tự nhiên

'Hồi sinh' hồ tiêu Gia Lai nhờ canh tác thuận tự nhiên

Sau nhiều năm bị ảnh hưởng nặng bởi dịch bệnh “chết nhanh, chết chậm”, ngành hồ tiêu ở Gia Lai đang dần phục hồi nhờ sự chuyển đổi mạnh mẽ sang phương thức canh tác thuận tự nhiên, trong đó người trồng ưu tiên duy trì độ phì nhiêu của đất, sử dụng chế phẩm sinh học và giảm thiểu hóa chất. Cách làm này giúp cây tiêu tăng sức đề kháng, ổn định năng suất và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.