Kỹ thuật trồng nấm sò

Kỹ thuật trồng nấm sò
Nấm sò cần nuôi trong phòng kín, tránh ánh sáng và gió .Ảnh : hoinuoitrong.com
Nấm sò cần nuôi trong phòng kín, tránh ánh sáng và gió .Ảnh : hoinuoitrong.com

1. Đặc tính sinh học

Nấm sò có tên khoa học là Pleurotus spp., còn có tên khác là nấm bào ngư. Nấm sò có nhiều loại, khác nhau về màu sắc, hình dạng, khả năng thích nghi với các điều kiện nhiệt độ: loại chịu lạnh nhiệt độ thích hợp từ 15-20oC, loại chịu nhiệt thích hợp ở điều kiện nhiệt độ 25-30oC.

Ẩm độ nguyên liệu (cơ chất) 65-70%, ẩm độ không khí 85-90%, ánh sáng vừa phải (đọc sách được), độ thông thoáng vừa phải, pH=7.

Nấm sò sử dụng xenlulo trực tiếp, nấm mọc thành cụm dạng hình phễu gồm mũ nấm, cuống nấm và rễ nấm. Có loại nấm sò trắng, sò tím, sò nâu.

2. Thời vụ

Có thể trồng quanh năm, nhưng thuận lợi nhất là từ tháng 9 đến tháng 4 dương lịch.

3. Nguyên liệu và xử lý nguyên liệu

Có thể làm nấm sò từ nguyên liệu rơm rạ, bông phế liệu, mùn cưa, bã mía, vỏ hạt cà phê…

a. Cách xử lý nguyên liệu bằng ủ (không phải hấp):

Nguyên tắc chung: Rơm rạ khô được làm ướt trong nước sạch, sau đó xử lý nước vôi (tỷ lệ 1 tấn nguyên liệu cần 20-30kg vôi tôi) theo những cách sau:

Đổ nước vôi đã gạn vào bể ngâm rơm 15-30 phút, sau vớt rơm rạ ủ đống

Ngâm rơm rạ khô xuống ao hồ, kênh rạch…sạch vớt lên bờ ủ đống, cứ một lớp rơm rạ 20-30cm tưới một lớp nước vôi (ít làm vì nước ao hồ thường bẩn).

Trải ra sân, bãi sạch phun nuớc cho đến khi rơm rạ ngấm đủ nước có màu nâu sẫm, lấy nước sôi tưới lên lượt cuối và ủ đống.

Lợi dụng trời mưa tung ra sân, sau tưới lại bằng nước vôi đợt cuối và ủ đống. Rơm rạ sau khi xử lý bằng nước vôi có màu sáng, thơm, hơi có mùi vôi nhẹ là được. Cách phổ biến là xử lý rơm trong bể nước có vôi.

Chú ý: Trong khi đảo, chỉnh độ ẩm thật chuẩn đạt 65% (văt chặt chỉ có nước ước vân tay), nếu quá ẩm hoặc quá khô cần phải chỉnh lại bằng cách phơi hay bổ sung thêm nước ủ lại 1-2 ngày sau mới trồng. Băm rơm thành từng đoạn 7-10cm.

Quá trình xử lý nguyên liệu theo sơ đồ sau:

Đối với ủ nguyên liệu bông phế thải: Ngâm bông trong nước vôi (hòa 4kg vôi tôi với 1m3 nước), vớt ủ đống có kệ kê ở đáy đống ủ. Đống ủ rộng 1,2-1,5m, cao 1,5-1,8m, dài tối thiểu 1,5m; quây nilon chung quanh, để hở đỉnh. Sau 3-4 ngày, xé tơi bông và ủ lại 3-4 ngày nữa rồi đảo đều trước khi cấy giống.

b. Cách xử lý nguyên liệu bằng hấp khử trùng:

Rơm rạ chặt ngắn 10-15cm ngâm trong nước vôi 15-20 phút để ráo nước rồi ủ 2-3 ngày. Bông phế loại làm ướt như trên, ủ 3-4 ngày, xé tơi đảo đều, nếu quá ẩm phải phơi lại. Mùn cưa tạo độ ẩm rồi ủ 4-6 ngày. Các nguyên liệu này sau kiểm tra đủ độ ẩm trộn thêm 5-10% cám gạo hoặc cám ngô.

Đóng nguyên liệu vào túi nilon chịu nhiệt kích thước 25-35cm, trọng lượng 1,5-2kg/túi, cổ túi nút ống nhựa và bông không thấm nước. Sau đó đưa vào hấp khử trùng trong nồi áp suất (1,3-1.4 atmotphe, nhiệt độ121-125oC thời gian 180-240 phút). Ngoài cách trên có thể hấp trong thùng phuy (cách thủy) ở nhiệt độ 100oC, thời gian 10-20 giờ. Sau khi hấp lấy bịch ra để nơi sạch sẽ cấy giống trong hộp cấy và phòng vô trùng. Cách hấp này rất tốt, hạn chế nhiễm bệnh, dùng ít giống, năng suất cao.

4. Cấy giống nấm sò

Nguyên liệu sau khi ủ, đóng vào túi nilon kích cỡ 30 x 40cm (mùa hèo) hoặc 35 x 50cm (mùa đông). Bông phế liệu dùng túi 25 x 35cm. Khu vực cấy giống và ươm cần sạch sẽ để tránh các loại n bệnh khác. Băm nguyên liệu thành đoạn ngắn 5-7cm.

Cho nguyên liệu vào túi đã hàn thành lớp cao 5-7cm, dùng tay nén chặt tạo khối tròn đều phẳng, rắc một lớp giống xung quanh lớp rơm rạ sát phía ngoài thành túi (tránh rơi vào trong làm giống chết và sinh bệnh), cứ làm như vậy đủ 3 lớp, lớp trên cùng rắc giống đều trên bề mặt. Sau đó dùng một cục bống bằng miệng chén uống nước đặt trên miệng túi lấy dây cao su buộc nút bông (bông không thấm nước tạo cho thoát nước).

Chú ý: Khi nén rơm phải sát mặt túi rắc giống nấm sát túi và nhìn thấy được. Rơm hơi ướt nén vừa phải, trọng lượng túi đạt 2,5-3,0kg, túi n này gọi là bịch nấm, 1 tấn nguyên liệu được 700 túi. Đối với bông phế thải trọng lượng bich 1,5-1,6kg.

5. Ươm và rạch bịch

*Ươm giống: Bịch nấm được cấy chuyển vào nơi ươm, đặt trên giá hoặc dưới đất khoảng cách các bịch 5-7cm, nhà ươm cần thoáng mát, sạch sẽ và không cần ánh sáng, thời gian ươm 20-25 ngày.

Bịch nấm nếu tốt, sau trồng 2 ngày từ hạt nấm có sợi trắng ra ăn dần vào nguyên liệu tạo màu trắng đồng nhất, rơm chuyển sang màu vàng, bịch rắn chắc. Nếu bịch nấm không phát triển tốt sợi sẽ co lại hoặc tạo vùng xanh, đen do nấm mốc dại, nên loại riêng ra và để xa nơi nuôi trồng.

Chú ý: Phòng ngừa chuột hại.

* Rạch bịch: Bịch nấm đã phát triển tốt sau 20-25 ngày kể từ khi cấy giống, quan sát thấy sợi nấm ăn cách đáy 1cm có thể rạch bịch. Dùng dao nhọn, sắc rạch 4-6 đường xung quanh, khoảng cách các đường rạch đều nhau, chiều dài vết rạch 3-4 cm theo chiều dọc bịch nấm. Sau đó bỏ bông nút và nén bịch, dùng dây nilon buộc miệng túi (nếu bịch nguyên liệu bông không cần phải nén).

6. Chăm sóc và thu hái nấm

* Treo bịch nấm bằng dây nilon tạo thành cây lên phía trên lán. Các bịch nấm cách nhau 10-15cm để khi nấm ra không chạm vào nhau và dễ thu hái. Khoảng 2-3 hàng nấm tạo lối đi rộng 40cm để đi lại, chăm sóc.

* Tưới nước: Sau khi rạch bịch chỉ tưới nước tạo ẩm nền nhà. Khi bịch đã rạch 4-6 ngày sau nấm bắt đầu lên, tiến hàng tưới nước bên ngoài túi. Nguyên tắc là tưới nước dạng sương mù, lượng ít nhưng thời gian tưới kéo dài trong một lần tưới đảm bảo bề mặt mũ nấm lúc nào cũng có lớp nước đọng ở trên.

Tùy theo lượng nấm ra nhiều hay ít, độ lớn của nấm, độ ẩm không khí cao hay thấp để đảm bảo số lần tưới và lượng tưới trong ngày, trung bình 4-6 lần tưới. Nếu thiếu nước, nấm cằn cỗi, nhẹ cân, ăn dai; nếu thừa nước, nấm bị vàng, thối rữa. Khi thu hái hết một đợt ngưng tưới vào bịch (xung quanh vẫn giữ ẩm), khoảng 4-6 ngày sau nấm ra tiếp các đợt 2, 3, 4, 5...việc chăm sóc tương tự.

Chú ý: Giai đoạn nấm phát triển cần ánh sáng vừa phải, trong phòng mở cửa có thể đọc được sách, độ ẩm cao, không có ánh sáng trực tiếp chiếu vào, thoáng khí nhưng không được thổi trực tiếp vào bịch nấm (làm các nấm đinh ghim bị teo, cây n bị vàng sẽ làm kém chất lượng và giảm năng suất).

*Thu hái nấm: Nấm sò mọc thành cụm nên khi nấm lớn cần thu hái cả cụm. Hái nấm đúng độ tuổi sẽ đạt năng suất, chất lượng cao nhất (quan sát mũ nấm phía ngoài đã căng nhưng giữa mũ và nấm còn hơi lõm, gốc ngắn mgập màu trắng) là đúng tuổi, hái nấm 1-2 lần/ngày (sáng sớm, chiều tối).

Khi thấy mũ nấm đã căng hết, mép mũ nấm có răng cưa nếu thấy làn khói trắng bay ra là nấm đã già, chất lượng kém. Hái nấm không được để sót lại phần gốc nấm trên bịch, nếu sót phải cấu bỏ sạch để lần sau nấm ra tốt hơn. Tổng thời gian thu hái nấm kéo dài 40-50 ngày kể từ ngày hái nấm đầu tiên. Khi thu hái sau một thời gian túi nấm bị xẹp cần nén lại và chăm sóc như trước. Nắng suất n tươi đạt 600-700kg/1 tấn nguyên liệu.

7. Chế biến nấm

* Nấm tươi: Hái nấm xong dùng dao sắt cắt sạch phần gốc, tách những cụm nấm lớn thành cụm nhỏ cho vào túi PE buộc kín để trong rổ nhựa, vận chuyển nhẹ nhàng đến nơi tiêu thụ. Nếu bảo quản ở 5-8C, thời gian để được 24h vẫn đảm bảo chất lượng.

* Phơi hoặc sấy khô: Dùng tay xé nhỏ cây nấm theo chiều dọc từ cuống đến mũ nấm, phơi sấy ở nhiệt độ 40-45oC nấm sẽ có màu trắng vàng, thơm. Sau khi phơi, sấy nấm phải khô, giòn (ẩm độ dưới 12%) cần cho vào túi PE không thủng, cho 2 lần túi buộc chặt miệng túi để nơi khô ráo. Khi sấy nếu nấm già có màu nâu sẫm, nếu quá lửa nấm bị đen đầu làm giảm chất lượng. Làm giàn sấy đơn giản bằng bếp than để sấy nấm.

* Nấm muối: Nấm hái xong cắt cuống, thả vào chậu nước lạnh rửa sạch. Đun sôi nước và chần nấm 5-7 phút, nhấn nấm chìm liên tục trong nước sôi (nếu không nấm có màu đen, loang lổ) vớt ra thả ngay vào nước lạnh. Vớt nấm đã chần đó vào túi, vại (chum): cứ 1kg nấm cho 0,2 lít dung dịch muối bão hòa + 0,3kg muối khô + 3 gam axit citric.

Buộc chặt túi hoặc đậy nắp, phía trên dùng vỉ tre ấn chìm nấm trong dung dịch muối. Sau 15 ngày ổn định nồng độ muối (22%), nấm có màu vàng nhạt, mùi thơm, pH=4, dung dịch trong suốt là đạt yêu cầu.
Theo: nhanong.com.vn

Có thể bạn quan tâm

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã A Lưới 3, A Lưới 4 (thành phố Huế) đang dần hình thành với quy mô khang trang, hiện đại. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên gồm: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Phường Đông Thành, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng đặc sản thanh trà của địa phương với hai loại chủ yếu là ngọt và chua - loại trái cây từng được xác lập Kỷ lục Việt Nam với 135 món ẩm thực độc đáo được chế biến từ nguyên liệu này.

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Với quyết tâm xây dựng vị thế cho hạt tiêu sạch, nhà nông ở tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác theo hướng hữu cơ vi sinh. Chính sự thay đổi từ tư duy đến hành động chính tại mỗi nông hộ trồng hồ tiêu đang góp phần nâng tầm giá trị nông sản địa phương, đồng thời mở ra hướng đi làm giàu bền vững.

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Giữa núi rừng biên giới, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi bản Piêng Vai, xã Mỹ Lý (tỉnh Nghệ An) đang rất nỗ lực mang ánh sáng tri thức đến với bà con. Trong lớp học xóa mù chữ do Đồn Biên phòng Mỹ Lý tổ chức, những người phụ nữ Mông lần đầu tiên cầm bút, tập ghép vần, viết tên mình.

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Hơn 10 năm qua, nhờ chăn nuôi ngựa bạch, gia đình ông Phùng Văn Lén ở thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất, tỉnh Lạng Sơn đã có của ăn của để. Thu nhập hằng năm ổn định, cao gấp nhiều lần so với làm kinh tế đồi rừng, giúp gia đình ông xây được nhà kiên cố và mua sắm đầy đủ trang thiết bị phục vụ đời sống, sinh hoạt.

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn đang mở ra hướng đi mới cho nhiều địa phương. Tại Hưng Yên, hướng đi này bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế và xã hội rõ rệt.

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), nghề nuôi ong bạc hà từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao, trở thành sinh kế quan trọng dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp, nghề nuôi ong truyền thống đang được nâng tầm nhờ ứng dụng công nghệ 4.0, góp phần bảo tồn giá trị bản địa, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định thương hiệu mật ong bạc hà Cao nguyên đá Đồng Văn.

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Tại xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, mô hình nuôi lươn không bùn trong hồ xi măng phát triển mạnh. Mô nình này được đánh giá là dễ thực hiện, ít tốn diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nuôi qui mô lớn, đạt lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.