Nhiều triển vọng với xuất khẩu trái cây Việt Nam (Bài 1)

Nhiều triển vọng với xuất khẩu trái cây Việt Nam (Bài 1)
Năm 2017, xuất khẩu trái cây của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh, nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia... đều có mức tăng trưởng cao và nhiều loại trái cây như thanh long, xoài, nhãn, vải thiều, cam, quýt... đã xuất hiện trên kệ các siêu thị lớn ở Mỹ, Nhật Bản.
Trái cây của Việt Nam thâm nhập mạnh mẽ vào các thị trường thế giới đó là nhờ người trồng trái cây trong nước đã đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Nhiều vùng sản xuất trái cây theo chuỗi giá trị liên kết, sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế đã được triển khai đúng hướng.

Không chỉ dừng lại ở đó, ngành xuất khẩu trái cây và rau củ quả nói riêng được các chuyên gia đánh giá vẫn còn nhiều dư địa, thị trường thế giới vẫn còn nhu cầu rất lớn trong việc bổ sung dinh dưỡng và các loại vitamin hàng ngày. Tuy nhiên, để làm được điều này, ngành xuất khẩu trái cây phải có hướng khắc phục những nhược điểm còn vướng và có giải pháp cụ thể để mở rộng lối đi cho ngành này trong tương lai.
Nông dân xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành (Long An) chăm sóc thanh long. Ảnh: Bùi Như Trường Giang - TTXVN
Nông dân xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành (Long An) chăm sóc thanh long. Ảnh: Bùi Như Trường Giang - TTXVN
Bài 1: Vẫn sản xuất nhỏ lẻ 

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, ước tính xuất khẩu trái cây Việt Nam cả năm 2017 đạt 3,5 tỷ USD, tăng 43% so với năm 2016. Các cơ quan chức năng đánh giá, xuất khẩu trái cây đến thời điểm này đã vượt qua cả lúa gạo, làm tăng giá trị sản xuất cho người dân Việt Nam. Thế nhưng, bên cạnh việc tăng giá trị, ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu trái cây vẫn còn nhiều khó khăn, chưa xây dựng được nhiều vùng chuyên canh trái cây lớn. 

Sản xuất theo nông hộ đặc trưng 
Với đặc điểm sản xuất tự túc từ nhiều năm qua, người sản xuất trái cây Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng chủ yếu tự gây dựng vườn trên đất nhà đang có. Và dường như rất ít nông dân có tầm nhìn chiến lược là phải mở rộng vườn cây, tạo vùng sản xuất lớn hơn và theo chủng loại riêng để cung ứng cho thị trường. 

Bên cạnh đó, diện tích sản xuất cây ăn trái của Việt Nam lại chủ yếu là vườn tạp, có rất ít vườn chuyên canh cây trái với diện tích lớn. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cả nước hiện có 875.000 ha cây ăn trái, trồng chủ lực 15 loại trái phục vụ cho chế biến và xuất khẩu; trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 38% diện tích cây ăn trái cả nước, nhưng sản lượng cung ứng chiếm hơn 50%. 

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng Cục trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay các tỉnh đã tiến hành quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp theo tái cơ cấu nông nghiệp. Tuy nhiên, những quy hoạch này vẫn chưa có trọng tâm, chưa tập trung tối ưu để tạo ra những vùng sản xuất có tính cạnh tranh. Đây là nguyên nhân khiến cho xuất khẩu trái cây thiếu ổn định. Số vùng chuyên canh còn ít nên không đủ lượng hàng cung ứng cho khách hàng đặt hàng lớn và thời gian ngắn. 

Cho đến nay, một số tỉnh cũng đã hình thành được nhiều vùng tập trung như: xoài cát Hòa Lộc ở Tiền Giang, thanh long Bình Thuận, vải thiều Bắc Giang, Hải Dương, nho Ninh Thuận, bưởi năm roi Vĩnh Long… nhưng nguồn nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu vẫn còn thiếu. 

Bên cạnh đó, nguồn giống và quy trình chăm sóc cũng không đồng đều, không ổn định để tạo thuận lợi cho sản xuất. Không những vậy, các thị trường nhập khẩu trái cây Việt Nam cũng đặt ra nhiều rào cản kỹ thuật trong kiểm dịch thực vật thay cho hàng rào thuế quan trước đây, làm cho người sản xuất phải chuyển đổi kỹ thuật sản xuất và chăm sóc, chế biến mới đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của khách hàng. 

Khi chính doanh nghiệp đến với thực tiễn sản xuất cây ăn trái các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long mới thấy được nguồn cung nguyên liệu vốn đã thiếu, mà nguồn nguyên liệu đạt chất lượng cao theo yêu cầu của các thị trường "khó tính" lại càng hiếm hơn. 

Cho đến nay, vùng chuyên canh cây ăn trái được chứng nhận các tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP chưa nhiều. Điều này dẫn đến đa số trái cây vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ bán được cho các thương lái. Sau khi tuyển chọn từ nhiều vườn khác nhau mới có thể cung ứng cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Số còn lại thì cung ứng cho thị trường nội địa. 

Điển hình như tại tỉnh Tiền Giang, hiện nay 98% sản lượng trái cây của tỉnh phải bán cho các thương lái thu gom, thay vì bán trực tiếp cho doanh nghiệp để rút ngắn khoảng cách giao thương như mong muốn, ông Cao Văn Hóa, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang chia sẻ. 

Cũng chính vì hình thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún này đã làm cho việc ứng dụng công nghệ vào thu hoạch và chế biến gặp nhiều khó khăn. 

Thất thoát chiếm tỷ lệ cao 
Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, với diện tích sản xuất nhỏ, rời rạc từ các vườn cây khác nhau, thì các khâu chăm sóc, bón tưới, thu hoạch cũng chỉ có thể thực hiện rời rạc, nhỏ lẻ. Bởi, nếu muốn đưa công cụ, máy móc vào sản xuất và thu hoạch trái cây, cần phải áp dụng trong một khu vực rộng lớn.
Thu mua thanh long tại xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành (Long An). Ảnh: Bùi Như Trường Giang - TTXVN
Thu mua thanh long tại xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành (Long An). Ảnh: Bùi Như Trường Giang - TTXVN

Ông Nguyễn Văn Hòa, Viện trưởng Viện cây ăn quả Miền Nam nhấn mạnh, với việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất trái cây của vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay vẫn còn yếu, làm cho khâu thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch chiếm tỷ lệ rất cao, lên đến 30%.

Thêm vào đó, hình thức sản xuất nhỏ lẻ làm tăng thêm các chi phí sản xuất khi tưới, bón phân, chăm sóc. Từ đó làm cho giá thành sản xuất cũng tăng cao, người sản xuất cũng không thu được lợi nhuận nhiều như mong muốn, gây khó khăn cho người thu mua, tuyển chọn vườn cây cũng như chất lượng sản phẩm. 

Khi qua nhiều khâu như vậy, chất lượng sản phẩm cho dù tốt nhất, cũng khó có thể giữ được như ban đầu với điều kiện bảo quản ở nhiệt độ bình thường như hiện nay. Khâu bảo quản sản phẩm của ngành trái cây cũng chưa được chú trọng ở nhiều nơi. Trong khi các doanh nghiệp tham gia vào khâu sản xuất, xuất khẩu chưa nhiều, thì chính người sản xuất phải biết bảo quản sản phẩm của mình trước tiên mới có thu nhập cao. 

Thêm vào đó, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp lại chủ yếu xuất khẩu trái cây tươi nên giá trị còn thấp, dễ bị tác động của các rào cản kỹ thuật như kiểm dịch thực vật, chất lượng giảm nhanh, thời gian bảo quản ngắn vì chưa có công nghệ bảo quản tiên tiến và các vấn đề an toàn thực phẩm… 

Cùng với những điểm yếu trong khâu chế biến và bảo quản sau thu hoạch, thì hạ tầng giao thông và logistics cũng là mấu chốt làm cho ngành sản xuất và xuất khẩu trái cây giảm uy lực của đôi cánh. 

Qua những lần khảo sát thực tế tại các vùng sản xuất cây ăn trái của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có những vườn bưởi da xanh, nhãn… rất lớn, cho chất lượng cao và được doanh nghiệp liên kết bao tiêu sản phẩm với giá cao, nhưng hầu hết lại gặp khó bởi giao thông không thuận lợi, hạ tầng không đủ sức để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa lớn. 

Hầu như sản phẩm thu hoạch tại vườn phải vận chuyển nhiều lần để đến xe hàng lớn. Từ đó mới chuyển về khu vực tập trung. Với sản phẩm trái cây, chỉ cần việc bốc dỡ được thực hiện nhiều lần cũng đã làm giảm chất lượng sản phẩm, xấu mẫu mã, từ đó sẽ giảm giá thu mua, thiệt hại cho người sản xuất. 

Tại Diễn đàn “Phát triển thị trường quốc tế cho ngành rau, củ, quả và giải pháp phát triển hệ thống logistics phục vụ nông nghiệp, nông thôn” diễn ra tại Đồng Tháp, ngày 18/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng cho rằng, Việt Nam còn nhiều bất cập về hạ tầng giao thông, logistics nên ngành rau củ quả giảm khả năng cạnh tranh với các nước khác ngay tại thị trường nội địa cũng như thị trường nước ngoài. 

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam tính theo tỷ trọng GDP, chiếm khoảng từ 18-20%, cao gấp đôi so với phí vận chuyển của các nền kinh tế phát triển và hơn 4% so với bình quân phí vận chuyển toàn cầu. Chính vì điều này mà chỉ trong 2 năm, từ 2014 đến 2016, năng lực logistics của Việt Nam giảm 16 bậc, từ vị trí 48 xuống vị trí 64 trên thế giới. 

Từ những vướng mắc này, ngành trái cây Việt Nam phải xác định rằng, tự chuyển mình, nâng chất lượng từ những vườn cây đến chất lượng sản phẩm cùng những dịch vụ kèm theo, thì mới có hi vọng phát triển mạnh mẽ. (Xem tiếp Bài 2: Nâng chất để cạnh tranh)
Hồng Nhung
(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã A Lưới 3, A Lưới 4 (thành phố Huế) đang dần hình thành với quy mô khang trang, hiện đại. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên gồm: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Phường Đông Thành, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng đặc sản thanh trà của địa phương với hai loại chủ yếu là ngọt và chua - loại trái cây từng được xác lập Kỷ lục Việt Nam với 135 món ẩm thực độc đáo được chế biến từ nguyên liệu này.

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Với quyết tâm xây dựng vị thế cho hạt tiêu sạch, nhà nông ở tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác theo hướng hữu cơ vi sinh. Chính sự thay đổi từ tư duy đến hành động chính tại mỗi nông hộ trồng hồ tiêu đang góp phần nâng tầm giá trị nông sản địa phương, đồng thời mở ra hướng đi làm giàu bền vững.

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Giữa núi rừng biên giới, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi bản Piêng Vai, xã Mỹ Lý (tỉnh Nghệ An) đang rất nỗ lực mang ánh sáng tri thức đến với bà con. Trong lớp học xóa mù chữ do Đồn Biên phòng Mỹ Lý tổ chức, những người phụ nữ Mông lần đầu tiên cầm bút, tập ghép vần, viết tên mình.

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Hơn 10 năm qua, nhờ chăn nuôi ngựa bạch, gia đình ông Phùng Văn Lén ở thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất, tỉnh Lạng Sơn đã có của ăn của để. Thu nhập hằng năm ổn định, cao gấp nhiều lần so với làm kinh tế đồi rừng, giúp gia đình ông xây được nhà kiên cố và mua sắm đầy đủ trang thiết bị phục vụ đời sống, sinh hoạt.

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn đang mở ra hướng đi mới cho nhiều địa phương. Tại Hưng Yên, hướng đi này bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế và xã hội rõ rệt.

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), nghề nuôi ong bạc hà từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao, trở thành sinh kế quan trọng dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp, nghề nuôi ong truyền thống đang được nâng tầm nhờ ứng dụng công nghệ 4.0, góp phần bảo tồn giá trị bản địa, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định thương hiệu mật ong bạc hà Cao nguyên đá Đồng Văn.

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Tại xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, mô hình nuôi lươn không bùn trong hồ xi măng phát triển mạnh. Mô nình này được đánh giá là dễ thực hiện, ít tốn diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nuôi qui mô lớn, đạt lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.