Quy trình kỹ thuật nuôi cua biển công nghiệp và bán công nghiệp

Quy trình kỹ thuật nuôi cua biển công nghiệp và bán công nghiệp
Ở mô hình này cua biển được thả nuôi với mật độ thấp (khoảng 1 con/10 m2), tỷ lệ sống của cua biển theo thống kê hàng năm chỉ đạt khoảng từ 5 - 10%, chính vì vậy nên năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cua biển thương phẩm này chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

Để giúp cho người dân nuôi cua biển có thể áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và những người dân nuôi tôm sú, cá kèo công nghiệp - bán công nghiệp (CN-BCN) không hiệu quả có thể chuyển sang đối tượng nuôi mới nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của gia đình cũng như sản lượng cua biển thương phẩm chúng tôi xin giới thiệu với bà con nông dân "quy trình nuôi cua biển CN-BCN sử dụng chế phẩm sinh học 3 giai đoạn".

Cua thương phẩm - Ảnh: Nguyễn Đức Khoa
Cua thương phẩm - Ảnh: Nguyễn Đức Khoa

Chọn địa điểm nuôi: (áp dụng cho cả 3 giai đoạn): Ao nuôi cua tốt nhất nên có các đặc điểm như: Gần sông, có nguồn nước dồi dào và dễ cấp thoát nước. Nền đáy ao, đầm nên là loại đất thịt pha sét hay cát, không quá nhiều bùn nhão (lớp bùn không quá 15 cm). Đất và nước ít bị nhiễm phèn, pH nước từ 7,5 - 8,5; độ mặn từ 10 - 30‰ và nhiệt độ từ 25 - 35oC. Ao nuôi tốt nhất nên có diện tích từ 2.000 m2 - 5.000 m2, độ sâu 1,5 - 1,8 m với bờ có chiều rộng đáy tối thiểu 4m, mặt 2 - 3 m và cao 1 - 1,5 m và cao hơn mức triều cường ít nhất 0,5 m.

Cải tạo ao: (áp dụng cho cả 3 giai đoạn nuôi): Sau mỗi vụ nuôi cần phải ủi hoặc nạo vét sạch bùn đáy ao, gia cố bờ ao. Trường hợp bùn ao không nhiều khoảng 10 cm, bón vôi CaO 15 - 20 kg/1000 m2, phơi đáy ao 2 - 3 ngày sau đó tiến hành bơm nước từ ao lắng vào ao nuôi (tốt nhất nên bơm nước qua túi vải lọc).

Tránh lấy nước trong các trường hợp sau: Nguồn nước nằm trong vùng có dịch bệnh, nước có hiện tượng phát sáng vào ban đêm, nước có nhiều váng bọt, màng nhầy, có nhiều phù sa đen lơ lửng. Không lấy nước khi thuỷ triều đang lên, nên lấy nước khi nước bắt đầu bình để hạn chế đưa các chất phù sa lơ lửng vào ao, tốt nhất nên lấy nước vào ao lắng trước khi cấp vào ao nuôi. Sau khi bơm nước vào ao nuôi khoảng 3 - 5 ngày thì tiến hành diệt tạp.

Để diệt các loài cá tạp và giáp xác trong ao có thể sử dụng: Saponin: 15 - 20 kg/1000 m3 nước. (nếu độ mặn > 15‰), dây thuốc cá: 8 -10 kg/1000 m3 nước (nếu độ mặn < 15‰). Xung quanh bờ rào kỹ bằng đăng tre, tấm nhựa, lưới cước...và đặt hơi nghiêng vào ao một góc 450, cao khoảng 80 – 100 cm sao cho cua không thoát ra được. Ao có cống cấp và thoát để cấp thoát nước cho ao, trước cống nên có 2 lớp đăng hay lưới chắn cẩn thận.

Bố trí chà khô thành từng bó chiếm từ 1/3 - 2/3 diện tích ao nuôi để làm giá thể trú ẩn khi cua lột (tránh tình trạng cua ăn thịt lẫn nhau gây hao hụt). Kiểm tra các yếu tố môi trường: pH: 7,5 - 8,5, độ kiềm: 100 - 120 mg/l, độ mặn: 10‰ -30‰. Việc cải tạo và xử lý nước ban đầu là khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của ao nuôi: Tạo cho vật nuôi có được một nền đáy ao sạch, làm tăng và ổn định lượng oxy hoà tan trong nước, ổn định chất lượng nước và làm giảm các chất độc trong nước, ổn định nhiệt độ ao, hạn chế tảo sợi, tảo đáy phát triển, hạn chế các loại vi khuẩn gây bệnh. Khi đạt các yêu cầu thì tiến hành thả giống.

Qua thời gian thử nghiệm kết quả cho thấy nuôi cua 3 giai đoạn cho kết quả tốt hơn so với mộ hình cũ tức nuôi không chia giai đoạn: Cua phát triển tốt hơn thời gian nuôi ngắn hơn, ít dịch bệnh hơn và tỷ lệ sống cao hơn.

Nuôi cua giai đoạn 1:

Là mô hình nuôi cua giống kích cỡ hạt tiêu lên đến kích cỡ mặt đồng hồ (loại từ  0,012 g/con đến  20 - 30 g/con).

Chọn giống và thả giống:

Hiện nay nguồn cua giống cung cấp cho người nuôi chủ yếu từ nguồn sản xuất giống nhân tạo nên chọn giống ở những cơ sở sản xuất cua giống có uy tín, con giống phải đồng cỡ, đồng màu, có phản ứng nhanh lẹ, các phụ bộ đầy đủ. Cua con khi cho vào khay phải phân bố đều, không bị dồn cục và khi đổ nước vào phải phân tán đều khay và khả năng đeo bám giá thể tốt. Khi vận chuyển cua giống nên cho vào khay nhựa loại 20 x 40 cm có lót cỏ và giá thể.

Mỗi khay nhựa 20 x 40 cm có thể vận chuyển 1000 con. Mật độ thả từ 10 - 15 con/m2 đối với nuôi cua giai đoạn 1. Thời gian thả nên tiến hành thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát, trước khi thả nên thuần cua thích hợp với nhiệt độ và độ mặn của ao nuôi, thả tập trung ở một khu vực, không nên thả giáp ao để dễ dàng cho ăn và theo dõi.

Chăm sóc quản lý: Phương pháp cho ăn: Thức ăn cho cua giai đoạn 1 là thức ăn công nghiệp loại sử dụng cho tôm sú có hàm lượng đạm từ 40 - 42% sử dụng thức ăn này giúp cua tăng trưởng tốt và hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi.
Khẩ
u phần cho 10.000 cua ăn giai đoạn I (từ 1 - 40 ngày tuổi).
 
Ngày tuổi Lượng thức ăn công nghiệp
trong ngày (kg)
Kích cở Số lần/ ngày Trọng lượng cua
40 - 45 2,0 - 2,1 - 2,2 - 2,3 - 2,4 3 mm 02 20 g - 25 g
46 - 50 2,5 - 2,6 - 2,7 - 2,8 - 2,9 3 mm 02 26 g - 30 g
51 - 55 3,0 - 3,1 - 3,2 - 3,3 - 3,4 4 mm 02 31 g - 40 g
56 - 60 3,5 - 3,6 - 3,7 - 3,8 - 3,9 4 mm 02 41g - 50 g
61 - 65 4,0 - 4,1 - 4,2 - 4,3 - 4,4 5 mm 02 51 g - 60 g
66 - 70 4,6 - 4,7 - 4,8 - 4,9 - 5,0 5 mm 02 61 g - 70 g
Khẩu phần cho 10.000 cua ăn cá tạp giai đoạn II (từ 40 - 70 ngày tuổi)
 
Ngày tuổi Lượng thức ăn tươi sống
trong ngày (kg)
Kích cở Số lần/ ngày Trọng lượng cua
40 - 45 10 - 12 - 15 - 17 - 20 Cắt nhỏ 02 20 g - 25 g
46 - 50 22 - 25 - 27 - 30 - 23 Cắt nhỏ 02 26 g - 30 g
51 - 55 25 - 27 - 30 - 32 - 35 Cắt nhỏ 02 31 g - 40 g
56 - 60 35- 36 - 37 - 38 - 39 Cắt nhỏ 02 41 g  - 50 g
61 - 65 40 - 41 - 42 - 43 - 44 Cắt nhỏ 02 51 g - 60 g
66 - 70 45- 45 - 47 - 48 - 50 Cắt nhỏ 02 61 g - 70 g

Cho ăn 2 lần /ngày lúc sáng sớm và chiều mát. Dùng sàng ăn để kiểm tra khả năng bắt mồi và sức khỏe cua (có thể bỏ từ 2-3% lượng thức ăn trong cử ăn vào sàng ăn và kiểm tra sàng sau 1,5 - 2 giờ). Bổ sung khoáng chất, dinh dưỡng và vitamin C, tỏi tươi với liều lượng 5 -10g/kg thức ăn để giúp cua tăng sức đề kháng và tăng trưởng tốt.

Quản lý môi trường ao nuôi: (áp dụng cho cả 3 giai đoạn nuôi): Định kỳ 10 -15 ngày thay 20 - 30% lượng nước trong ao nuôi, sau 1 - 2 ngày tiến hành diệt khuẩn bằng Iodine hoặc BKC (liều lượng tùy theo từng dòng sản phẩm) sau khi diệt khuẩn 2 - 3 ngày tiến hành cấy vi sinh và bón vôi CaCO3 10 - 15 kg/1000 m3 để cải tạo đáy ao giúp tăng cường vi sinh có lợi phát triển và ổn định các yếu tố môi trường. Cua sau khi nuôi 30 - 40 ngày tuổi cua đạt trong lượng từ 20 - 30 g/con tiến hành thu cua giai đoạn 1.

Có thể thu bằng nhiều cách nhưng có 2 cách dùng phổ biến: Dùng cần câu cua vào lúc trời mát phương pháp này ít gây tổn thương cua nhưng tốn nhiều công hoặc dùng lồng bẫy đặt cua vào buổi tối, phương pháp này ít tốn công nhưng thu tập trung, số lượng nhiều nên dễ gây tổn thương cua do chúng kẹp nhau. Qua thực nghiệm nuôi cho thấy tỷ lệ sống của cua nuôi ở giai đoạn 1 dao động từ 70 -80%.

Nuôi cua giai đoạn 2: Loại từ  20 - 30 g/con lên 70 - 80 g/con

Chọn giống và thả giống: Hiện nay nguồn cua giống cung cấp nuôi giai đoạn 2 chủ yếu từ người nuôi cua giống giai đoạn I bán lại hoặc thu cua giống ở ao nuôi giai đoạn I tiếp tục sang ao thưa hơn để nuôi giai đoạn 2. Con giống phải đồng cỡ, đồng màu, có phản ứng nhanh lẹ. Loại cua 20 -30g vận chuyển khó hơn giai đoạn 1 nên người nuôi phải vận chuyển đúng quy cách để tránh hao hụt.

Cua thu tiến hành cho vào thùng xốp có lót cỏ và giá thể sau khi cho cua vào tiến hành dùng thảm thắm nước đè sát cố định vị trí cua tại chổ tránh chúng tấn công với nhau và vận chuyển đến nơi ao nuôi. Mỗi thùng xốp 50 x 100 cm có thể vận chuyển 100 con. Mật độ thả từ 3 - 5 con/m2 đối với nuôi cua giai đoạn 2. Thời gian thả nên tiến hành thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát, nên thả khắp ao để tránh cua tấn công nhau khi mới thả.

Chăm sóc quản lý: Phương pháp cho ăn: Thức ăn cho cua giai đoạn 2 có hai nguồn: Thức ăn công nghiệp loại sử dụng cho cua có hàm lượng đạm từ 38 - 40%  và thức ăn tươi sống như cá tạp, nhuyển thể hai mãnh vỏ…

Khẩu phần cho 10.000 cua ăn thức ăn công nghiệp giai đoạn II (từ 40 - 70 ngày tuổi).
 
Ngày tuổi Lượng thức ăn công nghiệp
trong ngày (kg)
Kích cở Số lần/ ngày Trọng lượng cua
40 - 45 2,0 - 2,1 - 2,2 - 2,3 - 2,4 3 mm 02 20 g - 25 g
46 - 50 2,5 - 2,6 - 2,7 - 2,8 - 2,9 3 mm 02 26 g - 30 g
51 - 55 3,0 - 3,1 - 3,2 - 3,3 - 3,4 4 mm 02 31 g - 40 g
56 - 60 3,5 - 3,6 - 3,7 - 3,8 - 3,9 4 mm 02 41g - 50 g
61 - 65 4,0 - 4,1 - 4,2 - 4,3 - 4,4 5 mm 02 51 g - 60 g
66 - 70 4,6 - 4,7 - 4,8 - 4,9 - 5,0 5 mm 02 61 g - 70 g
Khẩu phần cho 10.000 cua ăn cá tạp giai đoạn II (từ 40 - 70 ngày tuổi)
 
Ngày tuổi Lượng thức ăn tươi sống
trong ngày (kg)
Kích cở Số lần/ ngày Trọng lượng cua
40 - 45 10 - 12 - 15 - 17 - 20 Cắt nhỏ 02 20 g - 25 g
46 - 50 22 - 25 - 27 - 30 - 23 Cắt nhỏ 02 26 g - 30 g
51 - 55 25 - 27 - 30 - 32 - 35 Cắt nhỏ 02 31 g - 40 g
56 - 60 35- 36 - 37 - 38 - 39 Cắt nhỏ 02 41 g  - 50 g
61 - 65 40 - 41 - 42 - 43 - 44 Cắt nhỏ 02 51 g - 60 g
66 - 70 45- 45 - 47 - 48 - 50 Cắt nhỏ 02 61 g - 70 g
Cho ăn 2 lần/ngày lúc sáng sớm và chiều mát. Có thể áp dụng phương pháp quản lý thức ăn, quản lý môi trường và thu hoạch giống giai đoạn 1. Tỷ lệ sống qua thực nghiệm nuôi dao động từ 60 - 80%

Nuôi cua giai đoạn 3: Loại từ  70 - 80 g/con đến cua thịt:

Hiện nay, nguồn cua giống cung cấp nuôi giai đoạn 3 chủ yếu từ người nuôi cua giống giai đoạn 2 bán lại hoặc thu cua giống ở ao nuôi giai đoạn 2 tiếp tục sang ao thưa hơn để nuôi giai đoạn 3. Con giống phải đồng cỡ, đồng màu, có phản ứng nhanh lẹ, còn đủ các phụ bộ. Loại cua 70 g vận tương tự như vận chuyển cua giai đoạn 2. Mỗi thùng xốp 50 x 100 cm có thể vận chuyển 50 con. Mật độ thả từ 1 - 2 con/m2 đối với nuôi cua giai đoạn 3. Nên tiến hành thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát và thả phân bố khắp ao để tránh cua tấn công nhau khi mới thả. Một lưu ý quan trọng khi thả cua giai đoạn 3 là: Để tránh tình trạng cua bắt cặp sớm, lên gạch khi chưa đạt kích cỡ thương phẩm và cua ăn thịt lẫn nhau thì nên thả cua theo tỷ lệ 10 cua cái : 3 cua đực.

Chăm sóc quản lý: Phương pháp cho ăn: Thức ăn cho cua giai đoạn 3 là thức ăn tươi sống như cá tạp, nhuyển thể hai mãnh vỏ… Khẩu phần ăn cho cua giai đoạn 3 loại (70 - 80 g/con) đến cua thịt là 2 - 3% trọng lượng thân, cho ăn 1 lần /ngày lúc chiều mát. Lượng thức ăn tăng mỗi ngày, thường xuyên kiểm tra khả năng bắt mồi của cua để có chế độ tăng giảm hợp lý, có thể dùng sàng ăn kiểm tra khả năng bắt mồi và sức khỏe cua. Phương pháp quản lý môi trường và thu hoạch cua cũng nên tiến hành như giai đoạn 1 và 2. Năm 2013 Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Bạc Liêu thực hiện trình diễn tại xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải (áp dụng sang cua giai nuôi giai đoạn 3) cho thấy tỷ lệ sống ở giai đoạn 3 dao động từ 30 - 40%, năng suất đạt 100 - 150 kg/1000 m2.

Trong các mô hình nuôi trồng thủy sản thì mô hình nuôi cua biển thương phẩm được xem là loài ít bệnh tật nhất so với tôm, cá. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cua bị bệnh do một số yếu tố môi trường bất lợi như: Độ mặn và nhiệt độ quá cao làm cho cua chậm lớn và chết; độ mặn quá thấp gây ra hiện tượng cua không thể lột xác; môi trường bị ô nhiễm dẫn đến bị một số bệnh siêu vi trùng (virus) như: bệnh đốm đen, đốm nâu, đen mang, đóng rong, ký sinh trùng... Hiện nay, nghiên cứu về bệnh và biện pháp phòng trị vẫn chưa được phổ biến.

Vì vậy, để đảm bảo cho đàn cua phát triển tốt thì phương pháp phòng bệnh hữu hiệu vẫn là thường xuyên thay nước, diệt khuẩn, cấy vi sinh và vôi định kỳ để ổn định các yếu tố môi trường, cho ăn đủ về số lượng và và chất lượng bằng cách bổ sung thêm vitamin C, khoáng chất, tỏi tươi xuyên suốt quá trình nuôi để tăng cường sức đề kháng và khả năng tăng trưởng của cua biển nhằm giúp cho người nông dân đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất khi thực hiện mô hình nuôi cua biển CN-BCN 3 giai đoạn sử dụng chế phẩm sinh học.
Theo: tepbac.com

Có thể bạn quan tâm

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã A Lưới 3, A Lưới 4 (thành phố Huế) đang dần hình thành với quy mô khang trang, hiện đại. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên gồm: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Phường Đông Thành, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng đặc sản thanh trà của địa phương với hai loại chủ yếu là ngọt và chua - loại trái cây từng được xác lập Kỷ lục Việt Nam với 135 món ẩm thực độc đáo được chế biến từ nguyên liệu này.

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Với quyết tâm xây dựng vị thế cho hạt tiêu sạch, nhà nông ở tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác theo hướng hữu cơ vi sinh. Chính sự thay đổi từ tư duy đến hành động chính tại mỗi nông hộ trồng hồ tiêu đang góp phần nâng tầm giá trị nông sản địa phương, đồng thời mở ra hướng đi làm giàu bền vững.

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Giữa núi rừng biên giới, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi bản Piêng Vai, xã Mỹ Lý (tỉnh Nghệ An) đang rất nỗ lực mang ánh sáng tri thức đến với bà con. Trong lớp học xóa mù chữ do Đồn Biên phòng Mỹ Lý tổ chức, những người phụ nữ Mông lần đầu tiên cầm bút, tập ghép vần, viết tên mình.

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Hơn 10 năm qua, nhờ chăn nuôi ngựa bạch, gia đình ông Phùng Văn Lén ở thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất, tỉnh Lạng Sơn đã có của ăn của để. Thu nhập hằng năm ổn định, cao gấp nhiều lần so với làm kinh tế đồi rừng, giúp gia đình ông xây được nhà kiên cố và mua sắm đầy đủ trang thiết bị phục vụ đời sống, sinh hoạt.

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn đang mở ra hướng đi mới cho nhiều địa phương. Tại Hưng Yên, hướng đi này bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế và xã hội rõ rệt.

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), nghề nuôi ong bạc hà từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao, trở thành sinh kế quan trọng dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp, nghề nuôi ong truyền thống đang được nâng tầm nhờ ứng dụng công nghệ 4.0, góp phần bảo tồn giá trị bản địa, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định thương hiệu mật ong bạc hà Cao nguyên đá Đồng Văn.

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Tại xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, mô hình nuôi lươn không bùn trong hồ xi măng phát triển mạnh. Mô nình này được đánh giá là dễ thực hiện, ít tốn diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nuôi qui mô lớn, đạt lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.