Cựu chiến binh làm giàu, giúp đồng bào dân tộc thiểu số xóa đói giảm nghèo

Nhiều cựu chiến binh ở tỉnh Đồng Nai dù đã trải qua khói lửa chiến tranh, khi trở về đời thường nhưng vẫn tiếp tục phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tiên phong trong phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, họ còn là những tấm gương sáng trong công tác xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giúp đỡ đồng đội và bà con có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong cuộc sống.

Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

ccb-2.jpg
Cựu chiến binh Nguyễn Đình Thủy ở thôn Tân Lập, xã Phú Nghĩa kiểm tra vườn sầu riêng mới trồng.

Ông Nguyễn Đình Thủy (71 tuổi) ở thôn Tân Lập (xã Phú Nghĩa) từng tham gia kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước và góp sức mình vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Trở về sau những năm tháng khói lửa chiến tranh, ông Thủy không chọn an nhàn mà tiếp tục cuộc chiến mới đó là chống đói nghèo, xây dựng cuộc sống ấm no cho bản thân và cộng đồng.

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông Thủy về lập gia đình tại huyện Phước Long, xã Đức Hạnh (tỉnh Bình Phước cũ). Những ngày đầu, cuộc sống của đôi vợ chồng trẻ gặp vô vàn khó khăn, thử thách. Với bản chất kiên cường, ý chí sắt đá của người lính, ông Thủy không lùi bước trước gian nan. Ông nỗ lực không ngừng, tích lũy kinh nghiệm và mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp.

Từ hai bàn tay trắng, ông Thủy đã gây dựng được gần 20 ha đất canh tác. Với tầm nhìn chiến lược và sự cần cù, ông biến vùng đất hoang thành những vườn cây mang lại quả kinh tế cao.

Hiện 15ha đất của gia đình ông được phủ xanh bởi cây cao su, phần còn lại trồng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như, điều, tiêu và sầu riêng. Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và quản lý hiệu quả, mô hình kinh tế của ông Thủy mang lại nguồn thu nhập cao. Mỗi năm, gia đình ông thu về hơn 1 tỷ đồng.

Ông Thủy cho biết, chiến tranh đã tôi luyện cho ông ý chí vượt khó, không ngại gian khổ. Khi trở về với cuộc sống đời thường, ông luôn tâm niệm phải làm sao để gia đình mình thoát nghèo, có cuộc sống ổn định. Ông nghĩ, nếu mình có thể chiến đấu vì đất nước thì mình cũng có thể làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Không chỉ làm giàu cho bản thân, ông Thủy còn luôn hướng về cộng đồng. Ông đã tạo việc làm ổn định cho 7 lao động thường xuyên là đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn, mức lương khoảng 7 triệu đồng/tháng với những công việc chủ yếu là chăm sóc và thu hoạch nông sản. Vào mùa cao điểm thu hoạch điều, tiêu, số lượng nhân công ông Thủy thuê đông hơn, giúp thêm nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập, cải thiện đời sống.

Tại xã Phú Nghĩa, câu chuyện về ông Điểu Thuất (49 tuổi) ở thôn 3, người dân tộc S'tiêng, một quân nhân xuất ngũ thuộc Hội Cựu chiến binh xã Phú Nghĩa cũng là một minh chứng sống động về sự vươn lên. Trong những năm qua, từ khi gia nhập Hội Cựu chiến binh, cuộc sống của gia đình ông Điểu Thuất đã khấm khá hơn nhiều.

Sau khi xuất ngũ 1 năm và lập gia đình, ông Điểu Thuất được chia gần 1,3ha đất sản xuất. Sau đó, 1ha đã được trồng cao su và đang cho thu hoạch ổn định 6 năm. Mỗi tháng, vườn cao su mang lại nguồn thu khoảng 15 triệu đồng cho gia đình. Số diện tích đất còn lại được gia đình ông trồng cây cà phê.

Ông Điểu Thuất cho biết: “Môi trường quân ngũ đã cho tôi nhiều bài học đáng quý. Về cuộc sống đời thường, tôi cố gắng làm ăn, học hỏi từ các hội viên cựu chiến binh để vượt khó, có cuộc sống ổn định hơn”.

Ngoài canh tác vườn tược, ông Điểu Thuất còn tích cực đi làm thuê, tham gia tổ an ninh trật tự địa phương, góp phần giữ gìn bình yên cho xóm làng.

Tích cực tham gia công tác xóa đói giảm nghèo

Hội cựu chiến binh tham, vận động hội viên trong hội phát triển kinh tế.

Hội cựu chiến binh tham, vận động hội viên trong hội phát triển kinh tế.

Một trong những minh chứng sự giúp đỡ từ ông Nguyễn Đình Thủy là câu chuyện gia đình anh Điểu Ngọc, dân tộc S'tiêng, ở thôn Bù Gia Phúc 2, xã Phú Nghĩa. Gia đình anh Điểu Ngọc có ít đất sản xuất, cuộc sống bấp bênh. Sau khi được ông Thủy nhận vào làm công việc cạo mủ cao su và một số việc khác, hai vợ chồng anh Điểu Ngọc đã có thu nhập ổn định 7 triệu đồng mỗi tháng.

Có nguồn thu ổn định, gia đình anh Ngọc góp vốn chăn nuôi lợn và mạnh dạn đầu tư trồng cây điều ghép trên mảnh vườn 0,5ha.

Anh Điểu Ngọc xúc động chia sẻ: "Nhờ có ông Thủy mà gia đình tôi đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất. Giờ đây, chúng tôi đã có thu nhập ổn định, các con được đến trường đầy đủ".

Là hội viên Hội Cựu chiến binh xã Phú Nghĩa, thời gian qua, ông Điểu Thuất tích cực tuyên truyền cho bà con là đồng bào dân tộc thiểu số biết cách làm ăn, đầu tư vườn cây có năng suất cao hơn.

Ông Thuất cho biết, Hội Cựu chiến binh là nơi tập hợp những người đồng chí, đồng đội, nhiều gương làm kinh tế giỏi nên đã giúp nhau phát triển kinh tế, giúp đỡ hội viên trong cuộc sống. Bản thân ông luôn học hỏi các thế hệ đi trước và sẵn lòng chia sẻ kinh nghiệm của mình để bà con dân tộc thiểu số có thể thoát nghèo, làm giàu trên chính mảnh đất của mình.

Hiện trên địa bàn xã Phú Nghĩa có 448 hội viên cựu chiến binh. Xã Phú Nghĩa hiện có một câu lạc bộ sản xuất kinh doanh giỏi. Các hội viên được Hội Cựu chiến binh duy trì, hỗ trợ; đồng thời có sự lan tỏa và phát triển thêm số lượng các hộ sản xuất kinh doanh giỏi. Hội còn thực hiện các chương trình để nhân rộng điển hình tiên tiến về hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mang lại hiệu quả thiết thực cho bà con.

Ông Nguyễn Đình Nam, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Phú Nghĩa cho biết, những gương hội viên tại xã Phú Nghĩa đã và đang phát huy mạnh mẽ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Họ không chỉ thể hiện ý chí kiên cường vượt khó để làm giàu cho gia đình mà còn là những người tiên phong giúp đỡ những số phận yếu thế vươn lên trong cuộc sống. Những cá nhân trên là tấm gương sáng để thế hệ sau noi theo, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Những câu chuyện về cựu chiến binh Nguyễn Đình Thủy, hội viên Điểu Thuất và nhiều hội viên cựu chiến binh khác tại tỉnh Đồng Nai là minh chứng sống động cho tinh thần, nỗ lực của những người lính Cụ Hồ. Họ đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không ngừng nỗ lực để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cộng đồng./.

Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Giữa núi rừng biên viễn Tây Bắc, có một người phụ nữ lặng lẽ dành gần cả cuộc đời để giữ lại tiếng nói, câu hát và ký ức của dân tộc mình. Đó là Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân (sinh năm 1951, người dân tộc Si La, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

Ở buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, già làng Y Hơ Êban (sinh năm 1947) từ lâu đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con nơi đây. Với uy tín và trách nhiệm, già làng Y Hơ Êban lặng lẽ góp phần giữ gìn bình yên, mang lại cuộc sống ổn định, no ấm cho buôn làng.

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người Bí thư chi bộ, những năm qua, chị Đặng Thị Thu, Bí thư chi bộ thôn Chanh Yên, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm, tận tụy trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Cô giáo khiếm thính và hành trình 'thắp lửa' hy vọng

Cô giáo khiếm thính và hành trình 'thắp lửa' hy vọng

Tại Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật Võ Hồng Sơn (xã Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi), có một lớp học rất đặc biệt, nơi những thanh âm của cuộc sống được thay thế bằng những cử chỉ yêu thương và sự tập trung cao độ. Ở đó, cô giáo trợ giảng Nguyễn Thị Kim Ngân đang miệt mài "gieo" những hạt giống hy vọng cho những số phận kém may mắn, giúp các em tin rằng khiếm khuyết không phải là dấu chấm hết, mà là điểm bắt đầu của một hành trình nỗ lực khác biệt.

Thứ trưởng Thuỷ kỳ vọng hội nghị sẽ nhận được nhiều ý kiến tâm huyết.

Tuyên dương 66 già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu

Ngày 17/4, tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc năm 2026 và định hướng giai đoạn 2026 - 2030, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định tuyên dương 66 già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số...

"Vườn lan Thạch Hoa" của nữ nông dân sản xuất giỏi người Khmer

"Vườn lan Thạch Hoa" của nữ nông dân sản xuất giỏi người Khmer

Không chỉ dừng lại ở việc tận dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp, nhiều mô hình trồng lan tại xã Minh Hòa, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất giá trị cao, kết hợp giữa nông nghiệp, nghệ thuật và thương mại điện tử. Điển hình là mô hình trồng hoa lan của chị Thạch Thị Kim Hoa với quy mô 2 ha, tạo công ăn việc làm cho hàng chục lao động.

Tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến của nữ đại biểu trẻ nhất Quốc hội khóa XVI

Tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến của nữ đại biểu trẻ nhất Quốc hội khóa XVI

Ở tuổi 24, cô giáo Lo Thị Bảo Vy, giáo viên Trường Tiểu học Quỳnh Lập A, phường Tân Mai, Nghệ An không chỉ là đại biểu Quốc hội đầu tiên của dân tộc Ơ Đu - một trong những dân tộc thiểu số đặc biệt ít người tại Việt Nam, mà còn là đại biểu trẻ nhất trúng cử Quốc hội khóa XVI.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

​Lớp học đêm trên đỉnh Piêng Vai

​Lớp học đêm trên đỉnh Piêng Vai

Khi màn đêm buông xuống trên đỉnh Piêng Vai, xã Mỹ Lý, Nghệ An, giữa núi rừng tĩnh lặng, vẫn có một lớp học sáng đèn. Nơi ấy, con chữ được thắp lên từ sự tận tụy của thầy giáo Lương Thanh Hưng, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Mỹ Lý 1, người đã gắn bó cả đời với vùng biên giới xa xôi.

Người lính trẻ nơi địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc

Người lính trẻ nơi địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc

Tại các khu vực cửa khẩu, những người lính mang quân hàm xanh không chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, quản lý xuất nhập cảnh, mà còn trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực cửa khẩu.

Ngày Thể thao Việt Nam 27/3: Niềm tự hào của làng võ Điện Biên

Ngày Thể thao Việt Nam 27/3: Niềm tự hào của làng võ Điện Biên

Bước vào nghiệp võ khi 14 tuổi và sau gần 12 năm học tập, rèn luyện, thi đấu, vận động viên người dân tộc Thái Lò Văn Biển (quê xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) đã giành được hơn 30 huy chương các loại trên mọi đấu trường trong nước và khu vực. Không chỉ là niềm tự hào của làng võ thuật địa phương, Biển còn là tuyển thủ quốc gia đầu tiên của tỉnh Điện Biên giành Huy chương Vàng tại đấu trường SEA Games và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen do có thành tích thi đấu xuất sắc tại giải đấu này.

Người cán bộ trẻ 'thắp lửa ước mơ' nơi miền biên viễn

Người cán bộ trẻ 'thắp lửa ước mơ' nơi miền biên viễn

Ở miền biên viễn của tỉnh Cao Bằng, những người lính mang quân hàm xanh vẫn ngày đêm bám bản, bám dân, lặng thầm góp sức giữ bình yên nơi tuyến đầu. Tại Đồn Biên phòng Đàm Thủy (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng), Trung úy Hoàng Trung Kiên (sinh năm 2002), Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, là một trong những cán bộ trẻ tiêu biểu, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân tin yêu bởi sự tận tụy, trách nhiệm trong công việc, cũng như những việc làm cụ thể vì nhân dân khu vực biên giới.

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Từ những ngày đầu triển khai công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đội ngũ già làng, người có uy tín ở tỉnh Đồng Nai đã phát huy vai trò là "cầu nối" quan trọng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình thông qua lá phiếu cử tri. Không chỉ dừng lại ở việc vận động, già làng, người có uy tín tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào phẩm chất và năng lực của các ứng cử viên trong nhiệm kỳ bầu cử này.

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vượt qua những hủ tục lạc hậu và sự khắc nghiệt của thiên nhiên vùng biên viễn, vợ chồng bác sĩ người Mông Lầu Bá Hùa (cán bộ y tế Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh) và Hờ Y Chùa (Trung tâm Y tế Kỳ Sơn) đã viết nên một câu chuyện đầy cảm hứng về nghị lực và y đức. Không chọn phồn hoa đô hội, họ tình nguyện ở lại nơi gian khó nhất, coi sự sống của đồng bào là lẽ sống của chính mình, trở thành những "lá chắn" vững chãi bảo vệ sức khỏe nhân dân nơi cửa ngõ biên cương.

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Xuân mới về trên khắp buôn làng Tây Nguyên. Trong sắc mai vàng và âm vang cồng chiêng rộn rã, niềm vui của đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk càng thêm trọn vẹn khi nhiều quần chúng ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Những đảng viên trẻ là người dân tộc thiểu số đang từng ngày khẳng định vai trò tiên phong, góp sức xây dựng buôn làng ngày càng phát triển.

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, không khí Xuân dường như ấm áp hơn tại buôn Tul B, xã Ea Wer, tỉnh Đắk Lắk. Với các em nhỏ là “con nuôi Công an xã”, Tết năm nay không chỉ có bánh kẹo, quần áo mới mà còn trọn vẹn yêu thương từ những “người bố đặc biệt” cán bộ, chiến sĩ Công an xã Ea Wer.

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Xác định tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong đó phát triển đảng viên trẻ năng động, tiêu biểu người dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng bổ sung nguồn lực mới cho Đảng.

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Trong phong trào thi đua yêu nước của công nhân, lao động tỉnh Thái Nguyên, nhiều tấm gương điển hình đã và đang lan tỏa mạnh mẽ tinh thần lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, bền bỉ theo đuổi hành trình cải tiến kỹ thuật, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và địa phương.

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, anh Bùi Văn Miệt (49 tuổi, dân tộc Mường) tại xã Tân Lợi (Đồng Nai) là tấm gương sáng trong việc giữ gìn và truyền lửa các môn thể thao dân tộc.

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Tại vùng biên giới tỉnh Đồng Nai, bác sĩ Bùi Thị Thu Liễu (51 tuổi, Trưởng Trạm Y tế xã Hưng Phước) thầm lặng cống hiến, dốc hết nhiệt huyết, tình yêu nghề để chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là tấm gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025 được ngành Y tế tỉnh Đồng Nai vinh danh.

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Công tác chuẩn bị cho đợt tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2026 tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai đang được triển khai nghiêm túc, trách nhiệm. Nhiều thanh niên đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, thể hiện tinh thần xung kích, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

A Thái (sinh năm 1992, dân tộc Rơ Măm) là Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le ở xã biên giới Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi. Anh là tấm gương sáng về tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đưa “ý Đảng” vào “lòng dân” một cách tự nhiên và hiệu quả, thắp lên ngọn lửa niềm tin và khát vọng vươn lên cho cả cộng đồng.

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Piêng Luống và Phia Òi là 2 trong tổng số 21 bản của xã biên giới Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An), nằm biệt lập như những “ốc đảo” bên kia sông Nậm Nơn, thuộc lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Những năm qua, trong điều kiện khó khăn về kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng của bản làng, các giáo viên “cắm bản” ở các điểm trường Mầm non bản Piêng Luống, Phia Òi (Trường Mầm non Nhôn Mai) vẫn bám trụ địa bàn, gần gũi với nhân dân, đem tình yêu thương con trẻ, tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề để miệt mài “gieo chữ” cho các thế hệ con em đồng bào các dân tộc nơi đây.