Độc đáo nghề đan võng từ cây sari của người Cadong

Người già, thanh niên, phụ nữ Cadong ai cũng có thể đan võng từ cây sari
Người già, thanh niên, phụ nữ Cadong ai cũng có thể đan võng từ cây sari

Từ bao đời nay, vùng đất dưới chân núi Ngọc Linh trải dài theo trục con sông Tranh là nơi định cư lâu đời của tộc người Cadong. Họ sống hoàn toàn dựa vào thiên nhiên, mọi vật dụng và đồ dùng phần lớn đều được làm từ tre, nứa, lồ ô, trong đó có nghề đan võng từ cây sari nhằm phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày. Đến đây, người ta thường bắt gặp những người già, phụ nữ, trẻ em Cadong nằm trên chiếc võng đu đưa dưới những mái hiên nhà sàn.

Sari là loài cây thân gỗ, vỏ màu xám, nứt dọc, mọc rất nhiều ven những con suối lớn quanh vùng mà người Cadong sinh sống. Từ xưa, người Cadong đã phát hiện ra đặc tính của thân cây sari nên đã sử dụng vỏ của nó làm áo, váy, khố, chăn đắp, dùng làm dây cột nhà, làm võng.

Hằng năm, vào khoảng tháng 7 và tháng 8, khi sari trổ hoa, đàn ông Cadong lại vào rừng tìm cây sari về làm võng. Theo người Cadong, vào mùa sari nở hoa thì vỏ và xơ của nó rất mềm nên việc khai thác dễ dàng hơn. Người Cadong thường chọn cây sari lớn bởi vỏ có độ bền cao. Sau khi đốn cây về, người Cadong dùng cây đập vỏ, mang ra suối ngâm chừng 10 ngày cho vỏ tiết hết chất đắng, sau đó vớt lên, tiếp tục dùng cây đập lớp vỏ xơ này đến khi mềm, rồi dùng tay tước từng lớp xơ màu trắng đục ra, giặt sạch và tước thành từng sợi mang ra phơi nắng cho thật khô là có thể đan võng.

Độc đáo nghề đan võng từ cây sari của người Cadong ảnh 1Bà Hồ Thị Chơn truyền nghề đan võng cho con gái mình.

Như bao phụ nữ Cadong khác, bà Hồ Thị Chơn (70 tuổi, ở thôn 2, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam) đã được mẹ dạy đan võng sari từ nhỏ; từ đó đến nay, không biết bao nhiêu chiếc võng sari đã được đan từ bàn tay khéo léo của bà Chơn. Những sợi sari mỏng, qua bàn tay cần mẫn của bà Chơn, được se vào nhau kết nối thành những sợi dài. Bà khéo léo, tỉ mẩn bện chúng thành nhiều đốt xoen, mắt võng đều tăm tắp.

Theo bà Chơn, một cái võng được đan từ cây sari gồm có hai đầu võng. Khi tạo được một đầu rồi thì đầu võng thứ hai dễ hơn vì chỉ cần để dư múi ra rồi thắt nó lại. Để cột được đầu võng, người đan phải đan theo chiều dài khoảng mười mấy múi dây. Không được để múi dây chẵn vì sẽ không có múi dây dư ra để cột thành đầu võng. Người đan võng tuyệt đối không được đan lỗi vì khi đã bị lỗi thì chiếc võng nhìn trông như mớ bùi nhùi, muốn gỡ ra cũng không được.

Võng sari được đan theo kỹ thuật riêng biệt và hoàn toàn thủ công. Quy trình đan võng này thật công phu, đòi hỏi người đan không những khéo léo mà còn phải kiên trì, bền bỉ. Phải mất khoảng hai tháng, người đan mới có thể hoàn thành chiếc võng. Một chiếc võng đan đúng cách, đẹp có độ bền tới 10 năm. Chiếc võng được làm ra từ cây sari nói lên sự cần cù, sáng tạo của người Cadong, và nó còn mang vẻ đẹp hài hòa với thiên nhiên, như một hình ảnh đặc trưng văn hóa của người Cadong nơi đây.

So với các loại võng khác, võng làm từ cây sari cực bền và khi nằm cảm giác rất dễ chịu. Học đan võng từ cây sari không hề đơn giản. Nó đòi hỏi người học phải kiên trì nhìn cách đan mà nhớ chứ chỉ bày thì rất khó. Có lẽ vì sự phức tạp và nhiều công đoạn ấy mà rất ít người Cadong học được nghề này. Những người biết đan võng như bà Chơn còn rất ít. Người lớn thì tập trung thời gian đi làm trên rẫy, ngày mùa bận rộn đã chiếm hết thời gian, còn bọn trẻ thì tập trung hết vào học hành. Nghề đan võng bây giờ lớp trẻ giờ chẳng còn ai theo học. Chỉ còn số ít người Cadong lớn tuổi, gắn bó với nghề truyền thống của ông bà, phần vì cố gắng giữ nghề đang dần mai một.

Độc đáo nghề đan võng từ cây sari của người Cadong ảnh 2Người già, thanh niên, phụ nữ Cadong ai cũng có thể đan võng từ cây sari

Trước khi chúng tôi rời huyện vùng cao Bắc Trà My để về lại dưới xuôi, bà Hồ Thị Chơn đã nhượng lại cho Bảo tàng Quảng Nam chiếc võng mà bà vừa đan xong từ cây sari, như minh chứng về nghề đan võng truyền thống của người Cadong. Còn chúng tôi, những người làm công tác văn hóa rất đỗi vui mừng vì đã có thêm hiện vật dân tộc vào loại quý hiếm để trưng bày góp phần làm phong phú hơn trong kho tàng văn hóa vật thể - phi vật thể của cộng đồng dân tộc Cadong trên vùng Trường Sơn với ước mong một ngày không xa, nghề đan võng truyền thống từ cây sari của dân tộc Cadong sẽ hưng thịnh trở lại như xưa.

Theo baodaklak.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Mang tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi gửi tới Quốc hội

Một trong những vấn đề được các đại biểu Quốc hội khóa XVI quan tâm là Chương trình Mục tiêu quốc gia hướng tới mục tiêu cao nhất, đó là nâng cao đời sống người dân. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) đã có cuộc phỏng vấn với Đại tá Hoàng Ngọc Định – Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kiêm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang, Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang về những ưu tiên của đại biểu trong nhiệm kỳ mới của Quốc hội.

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Đậm sắc văn hóa Xtiêng trong nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân

Trong đời sống tinh thần của đồng bào Xtiêng, nghi lễ cầu phúc, cầu an đầu xuân từ lâu đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, phản ánh khát vọng về cuộc sống no đủ, bình yên và sự gắn kết cộng đồng. Không chỉ mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, nghi lễ còn là cách để các thế hệ gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống bền vững.

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.