Với bề dày hàng trăm năm, văn hóa của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy giá trị. Nhiều di sản vật thể, phi vật thể được khai thác, phát triển thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, đưa hình ảnh văn hóa Chăm nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung vươn xa trên bản đồ du lịch.
Kho tàng văn hóa Chăm đa dạng
Văn hóa vật thể của đồng bào dân tộc Chăm được thể hiện qua các nghề thủ công như, làm gốm, dệt vải... Hoa văn trong quá trình dệt thổ cẩm Chăm không chỉ mang tính trang trí, giá trị thẩm mỹ mà còn phản chiếu đặc trưng sinh hoạt văn hóa, xã hội và tôn giáo Chăm. Thông qua hoa văn có thể phân biệt giới tính, giai cấp, địa vị xã hội, chức sắc tôn giáo. Bà Nguyễn Thị Mỹ Trang (làng Mỹ Nghiệp, xã Ninh Phước) có gần 40 năm làm nghề dệt chia sẻ, nghề dệt thổ cẩm xưa kia là “thước đo” tiêu chuẩn của người phụ nữ trong xã hội cũ, được trao truyền từ mẹ sang con gái. Ngày nay, phụ nữ Chăm tiếp tục nỗ lực truyền dạy cho con cháu để giữ nghề và phát triển sinh kế.
Theo ông Phú Văn Ngòi, Giám đốc Hợp tác xã dệt Chăm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước), do sản phẩm dệt thủ công hoàn toàn nên giữ được độ tinh xảo, mềm mại theo tư duy sáng tạo của người thợ. Để ứng phó trước thách thức thị trường, hợp tác xã đã cải tiến mẫu mã và chủ động tìm kiếm đầu ra. Giai đoạn 2023 - 2024, một dự án nước ngoài đã tài trợ phục hồi các hoa văn cổ tại Mỹ Nghiệp, mở ra cơ hội bảo tồn những giá trị cốt lõi của làng nghề.
Cách đó 2 km cùng xã Ninh Phước là làng gốm Bàu Trúc, nơi mọi công đoạn làm gốm do phụ nữ thực hiện hoàn toàn thủ công. Trước đây, nghề gốm tuân thủ nguyên tắc mẫu hệ “mẹ truyền con nối” nhưng nay nam giới cũng tham gia chế tác các sản phẩm kích cỡ lớn hoặc phù điêu để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Anh Phú Hữu Minh Thuần, Giám đốc Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc cho biết, ngày nay, làm gốm ở Bàu Trúc không còn là công việc lúc nông nhàn mà đã trở thành nghề truyền thống giúp người dân thay đổi cuộc sống, nâng cao thu nhập. Mỗi ngày, làng nghề đón khoảng 1.000 lượt khách tham quan và cùng trải nghiệm không gian làm gốm của người Chăm. Chính lẽ đó, các sản phẩm gốm của làng Bàu Trúc cũng đa dạng hóa mẫu mã phục vụ thị trường quà lưu niệm du lịch. Nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2022.
Để làng gốm phát triển bền vững, anh Phú Hữu Minh Thuần kiến nghị, chính quyền địa phương có giải pháp bố trí không gian trưng bày, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động trẻ, đảm bảo vùng nguyên liệu đất sét và khu vực nung gốm hợp vệ sinh môi trường. Tỉnh đẩy mạnh quảng bá gốm Bàu Trúc trong các tour du lịch và áp dụng cơ chế ưu đãi thuế cho các hợp tác xã đặc thù.
Văn hóa Chăm còn chứa đựng kho tàng âm nhạc, ẩm thực và ngôn ngữ phong phú. Người Chăm sử dụng các nhạc cụ đặc trưng như, trống Ginăng, Paranưng, kèn Saranai, đàn Kanhi... Trong đó, bộ ba trống Paranưng, Ginăng và kèn Saranai là thành phần không thể tách rời trong các lễ hội. Múa Chăm là nét đặc trưng với động tác mềm mại, uyển chuyển, thường biểu diễn trong các lễ hội hoặc nghi lễ tôn giáo. Điệu múa Apsara được lấy cảm hứng từ các vũ nữ thiên thần trong đạo Hindu. Các bé gái người Chăm từ nhỏ đã biết múa và múa rất đúng kỹ thuật các điệu múa truyền thống của người Chăm.
Còn về chữ viết, người Chăm sử dụng tiếng Chăm và chữ viết Chăm (chữ Akhar Thrah). Tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa hiện còn lưu giữ nhiều mẫu thư tịch cổ trên giấy dó và lá buông của người Chăm. Thư tịch cổ không chỉ lưu giữ những tri thức về lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống xã hội của cộng đồng Chăm qua nhiều thế kỷ mà còn phản ánh quá trình sáng tạo, tiếp biến văn hóa và khả năng lưu truyền tri thức độc đáo của đồng bào Chăm. Tuy nhiên, thư tịch cổ cũng đang dần bị bào mòn theo thời gian, rất cần được nghiên cứu, khảo nghiệm và có giải pháp bảo tồn để phát huy hiệu quả nguồn di sản quý giá này.
Trải nghiệm văn hóa Chăm đa chiều
Được mệnh danh là xứ sở của “những ngọn tháp cổ”, “di tích sống”, Tháp Bà Po Nagar (phường Bắc Nha Trang), Tháp Hòa Lai (xã Thuận Bắc), Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) và Tháp Po Rome (xã Phước Hữu)… đến nay vẫn giữ được nét hài hòa, tinh tế giữa kiến trúc và điêu khắc.
Kiến trúc tháp Chăm sử dụng ngôn ngữ tạo hình cốt lõi là hình vuông và hình chữ nhật, đỉnh tháp là khối trụ tròn biểu tượng của Linga. Vật liệu xây dựng chủ yếu là gạch có màu đỏ tươi, độ cứng cao, vật liệu đá được sử dụng rất hạn chế. Trong lòng tháp hiện nay vẫn còn nguyên vẹn bệ thờ Yoni - Linga.
Anh Đạo Nguyên Tín, thuyết minh viên Tháp Klong Garai cho biết, trong kết cấu xây dựng, việc kết dính các viên gạch để xây dựng nên tháp đến nay vẫn là bí ẩn chưa có lời giải đáp. Có nghiên cứu cho rằng là chất kết dính từ nhựa của một loại cây nhưng cũng có rất nhiều quan điểm khác. Chính điều này đã làm tăng thêm vẻ huyền bí và trường tồn cho công trình.
Với những giá trị lịch sử và nghệ thuật vô giá, Tháp Po Klong Garai cùng Tháp Hòa Lai đã được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt vào năm 2016; Tháp Bà Po Nagar được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt vào tháng 1/2025. Riêng tượng thờ vua Pô Klong Garai được công nhận là Bảo vật Quốc gia vào năm 2024.
Bên cạnh đó, nghệ thuật điêu khắc trên bia, tượng đá Kut hay các thư tịch cổ trên lá buông đều phản ánh rõ đời sống tín ngưỡng sinh động của người Chăm trên vùng đất Panduranga xưa. Ngoài tượng thờ vua Po Klong Garai, hệ thống di sản Chăm còn có ba hiện vật là Bảo vật Quốc gia gồm: Bia Hòa Lai, Bia Phước Thiện (niên đại cuối thế kỷ VIII, đầu thế kỷ IX) đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa và phù điêu vua Pô Rômê (thế kỷ XVII) lưu giữ tại di tích Tháp Po Rome.
Không chỉ là di tích kiến trúc, các tháp Chăm còn là trung tâm của nhiều sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng quan trọng của đồng bào Chăm theo đạo Bà la môn. Nổi bật nhất là Lễ hội Katê diễn ra vào tháng 7 lịch Chăm (cuối tháng 9, đầu tháng 10), thu hút đông đảo người dân, du khách cùng lên tháp dâng lễ, vui hội.
Nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Đinh Hy nhận xét, Lễ hội Katê có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm. Ngày nay, các lễ hội khác như Rija Nưgar đầu năm, lễ Ca-mbun tháng 9 lịch Chăm, lễ cầu đảo Palao Kasah hay lễ Rija dòng tộc… cũng thu hút đông đảo người dân cùng tham gia.
Trong hành trình khám phá văn hóa Chăm, còn nhiều điều thú vị về ẩm thực, ngôn ngữ, nhà ở…của người Chăm. Nếu một lần đến với Khánh Hòa, du khách hãy trải nghiệm những giá trị văn hóa này. Mới đây, trong xu thế chuyển đổi số, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa tích hợp các giải pháp công nghệ hiện đại tại di tích Tháp Bà Po Nagar. Du khách chỉ cần quét mã QR trên thẻ tham quan, vé xe hoặc tương tác qua màn hình cảm ứng tại chỗ để bước vào không gian di sản số hóa. Hệ thống mở ra các trải nghiệm đa chiều từ tra cứu điển tích, bản đồ số các tháp Chăm đến tham quan ảo 3D và chiêm ngưỡng các bảo vật quốc gia được tái hiện sinh động.
Việc bảo tồn trọn vẹn những nét đẹp đặc sắc từ kiến trúc, lễ hội đến các làng nghề truyền thống của đồng bào Chăm tại Khánh Hòa chính là chìa khóa tạo nên sức hút cho du lịch di sản. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự giao thoa giữa giá trị truyền thống lâu đời và công nghệ hiện đại không chỉ giúp đánh thức tiềm năng văn hóa Chăm mà còn đưa những giá trị di sản vô giá này tiếp cận sâu rộng hơn với công chúng và du khách quốc tế./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn