Hướng tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026, ngành Văn hóa tỉnh Khánh Hòa đã chủ động triển khai tích hợp mã QR cùng nền tảng trải nghiệm số tại Khu di tích Tháp Bà Pô Nagar.
Đây là bước đi hiện thực hóa mục tiêu “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới”; đồng thời mở ra một cánh cửa tương tác đa chiều, đưa di sản nghìn năm hòa vào dòng chảy công nghệ toàn cầu.
Khát vọng bảo tồn trong dòng chảy số
Nằm trong chuỗi sự kiện văn hóa của tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa vừa chính thức vận hành hệ thống truyền thông mới và các giải pháp tương tác thông minh tại di tích Tháp Bà Pô Nagar. Đây là nỗ lực cụ thể nhằm số hóa toàn diện dữ liệu văn hóa, tối ưu hóa hành trình trải nghiệm của công chúng trước, trong và sau khi đến với không gian di sản diệu kỳ này.
Việc áp dụng công nghệ vào di tích không thuần túy là xu hướng kỹ thuật mà là phương thức diễn giải di sản mới, sinh động và bền vững hơn. Tại Tháp Bà Pô Nagar, hệ thống mã QR hiện đại đã được tích hợp đồng bộ trên thẻ tham quan, vé xe và toàn bộ các ấn phẩm truyền thông liên quan. Đặc biệt, hệ thống màn hình cảm ứng bố trí tại thực địa cho phép du khách đồng thời khám phá không gian kiến trúc cổ kính ngoài đời thực và không gian dữ liệu đa chiều trên môi trường số.
Bà Thái Thị Lệ Hằng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa chia sẻ: Đây là một trong những nhiệm vụ cụ thể hóa định hướng “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới” của ngành văn hóa tỉnh. Thông qua ứng dụng công nghệ số, chúng tôi hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực tiếp cận và trải nghiệm của công chúng đối với di sản văn hóa Chăm, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa bảo tồn lâu dài và phát huy giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Việc hoàn thiện sớm các giải pháp này trước thềm Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI là yêu cầu cốt lõi nhằm nâng cao chất lượng phục vụ du khách và bạn bè quốc tế.Chỉ với một thao tác quét mã đơn giản trên điện thoại thông minh, hệ thống sẽ mở ra một kho tàng tri thức đa phương tiện phong phú. Người xem có thể tra cứu toàn bộ thông tin văn hóa Chăm, trải nghiệm bản đồ số hệ thống tháp Chăm, khám phá tuyến tham quan 3D sống động tại không gian di tích và nhà trưng bày, hay tận mắt chiêm ngưỡng bộ sưu tập 3D các hiện vật cổ, bảo vật quốc gia với độ sắc nét tuyệt đối.
Bà Thái Thị Lệ Hằng chia sẻ thêm về tầm nhìn dài hạn hơn: “Chúng tôi không xem di sản là những hiện vật tĩnh lặng lưu trữ trong tủ kính mà hướng tới việc chuyển hóa toàn bộ thành dữ liệu văn hóa số sống động. Hệ thống này giải quyết bài toán cốt lõi lưu giữ nguyên trạng kiến trúc qua mô hình không gian số, chuẩn hóa dữ liệu quản lý tri thức và mở rộng cơ hội thụ hưởng văn hóa cho những ai chưa có điều kiện đặt chân đến vùng đất này. Đây đồng thời là bệ phóng vững chắc cho giáo dục di sản và du lịch thông minh phát triển”.
Khi di sản được thắp sáng trên không gian mạng
Sự đón nhận tích cực từ cộng đồng chủ thể văn hóa và thế hệ trẻ chính là thước đo chính xác nhất cho sự thành công của chiến dịch chuyển đổi số lần này. Đối với người dân địa phương, việc văn hóa dân tộc mình bước lên không gian mạng với một vị thế trang trọng là niềm hân hoan to lớn.
Ông Vạn Ngọc Chí, người dân làng nghệ thuật gốm, dệt cổ truyền Chăm Mỹ Nghiệp, xã Ninh Phước (Ninh Thuận cũ) chia sẻ: "Là một người con của dân tộc Chăm, nhìn thấy tri thức và vốn cổ của cha ông được phổ biến rộng rãi khắp thế giới chỉ qua một màn hình, tôi tự hào lắm. Giờ đây, chỉ cần chiếc điện thoại nhỏ, bất kể du khách hay ai muốn tìm hiểu, gõ vào một cái là thông tin về văn hóa, về Tháp Bà hiện ra đầy đủ, rõ ràng ngay".
Đối với khách du lịch, đặc biệt là thế hệ trẻ Gen Z - những người gắn liền với dòng chảy công nghệ, nền tảng số hóa tại Tháp Bà Pô Nagar mang lại những cảm xúc hoàn toàn mới mẻ, xóa nhòa khoảng cách thế hệ với những giá trị lịch sử cổ xưa.
Du khách Lê Như Bảo Trân đến từ Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: "Hôm nay cùng gia đình đi du lịch và được trải nghiệm một nền tảng di tích số toàn diện như vậy tại Tháp Bà Pô Nagar, em cảm thấy thực sự rất thú vị và tuyệt vời! Em thấy việc tiếp cận lịch sử thông qua thế giới công nghệ số tốt như thế này giúp em dễ dàng thấu hiểu sâu sắc hơn về các giá trị kiến trúc, văn hóa lâu đời của Tháp".
Hòa cùng niềm vui đó, hệ thống cũng nhận được phản hồi rất tích cực từ du khách đến từ các tỉnh thành khác nhau trên cả nước.
Du khách Nguyễn Thị Hoa (Đến từ tỉnh Đồng Nai) bày tỏ: "Hệ thống tương tác rất mượt mà và trực quan. Việc có thể xem trước bản đồ, ngắm nhìn cận cảnh các bảo vật ở góc độ mô hình số 3D giúp hành trình tham quan thực tế của chúng tôi có chiều sâu hơn rất nhiều. Công nghệ đã thực sự làm sống lại các giá trị cổ xưa một cách vô cùng gần gũi".
Sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ hiện đại và chiều sâu văn hóa truyền thống tại Tháp Bà Pô Nagar chính là lời khẳng định mạnh mẽ về một tư duy quản lý nhạy bén, bền vững. Việc chuẩn bị sớm và bài bản các giải pháp số trước thềm Ngày hội lớn tạo điều kiện tối ưu để du khách chủ động thiết lập lộ trình nghiên cứu, thưởng lãm ngay từ khi chuẩn bị chuyến đi.
Có thể khẳng định, dữ liệu văn hóa số tại Tháp Bà Pô Nagar không chỉ phục vụ đắc lực cho công tác bảo tồn chuyên môn, hỗ trợ giáo dục di sản học đường mà còn là cầu nối biến các giá trị tinh hoa của dân tộc Chăm thành một tài nguyên du lịch hấp dẫn, khẳng định sức sống mãnh liệt của bản sắc văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số hóa toàn cầu./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn