Tối 26/6, tại Khánh Hòa, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng tỉnh Khánh Hòa tổ chức đã chính thức diễn ra. Ngày hội quy tụ hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên quần chúng và đông đảo đồng bào Chăm đến từ 7 tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia.
Phát biểu tại lễ khai mạc, Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân nêu rõ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống văn hóa của đồng bào rất riêng nhưng tất cả cùng chung sống trong mái nhà Việt Nam, cùng hun đúc nên truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết, cần cù, sáng tạo và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam. Trong cộng đồng ấy, dân tộc Chăm có bề dày lịch sử và đời sống văn hóa phong phú, độc đáo, có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình hình thành, giao thoa và phát triển của văn hóa Việt Nam.
Văn hóa dân tộc Chăm là một kho tàng đặc sắc, từ các công trình kiến trúc tôn giáo được công nhận di tích quốc gia đặc biệt cho đến các bảo vật quốc gia và hệ thống thư tịch cổ. Bên cạnh đó là các di sản vật thể, di sản phi vật thể vô cùng phong phú, các lễ hội, âm nhạc đến các làng nghề đặc trưng. Một trong những đặc sắc nổi bật của văn hóa Chăm ở Việt Nam là sự thống nhất trong cội nguồn dân tộc.
Nếu như ở khu vực Nam Trung bộ, đồng bào Chăm lưu giữ nhiều lễ hội, nghi lễ, phong tục và nghề thủ công đặc sắc thì tại Nam bộ, đồng bào Chăm lại tạo nên một không gian văn hóa riêng, gắn bó giữa đạo và đời, giữa tôn giáo và dân tộc, thực hiện tốt trách nhiệm công dân. Sự đa dạng ấy đã làm nên vẻ đẹp riêng có của văn hóa Chăm. Đó cũng là biểu hiện sinh động của tính phong phú, bao dung, cởi mở và thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.
Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh: "Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là đường lối chiến lược của Đảng ta. Đại đoàn kết trước hết bắt nguồn từ tư tưởng dân là gốc, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách phát triển; trong đó có chính sách dân tộc, chính sách văn hóa phải xuất phát từ đời sống, nguyện vọng của nhân dân, phải làm cho nhân dân được tham gia, được đóng góp, được giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển. Vì vậy, chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó có đồng bào dân tộc Chăm không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là yêu cầu nhân văn sâu sắc của chế độ ta. Đảm bảo cho đồng bào được tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin… là gìn giữ tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hóa, là đào tạo, bồi dưỡng, phát huy vai trò của cán bộ, người dân tộc thiểu số, người có uy tín, chính sách tôn giáo, nghệ nhân và các chủ thể văn hóa trong cộng đồng".
Phó Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục phát triển sâu sắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa con người Việt Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh đó, gìn giữ và trao quyền di sản, nghiên cứu nhiều giải pháp áp dụng khoa học công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, phát huy vai trò của người có uy tín, các nghệ nhân trong việc bảo tồn các di sản văn hóa, gắn bảo tồn và phát huy văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào; đồng thời phát huy vai trò quan trọng của đồng bào Chăm đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa năm 2026 được tổ chức không chỉ là sự kiện văn hóa mang ý nghĩa tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc Chăm mà còn là hoạt động thiết thực, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Ông Nguyễn Việt Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa nêu rõ, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 với chủ đề “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong kỷ nguyên mới” được tổ chức tại tỉnh cho thấy sự quyết tâm của Khánh Hòa trong thực hiện các mục tiêu của Bộ chính trị về xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc; tăng cường giao lưu, đoàn kết giữa các địa phương, các cộng đồng dân tộc; đồng thời khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa phục vụ phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đây cũng là điều kiện để tỉnh Khánh Hòa thúc đẩy liên kết phát triển du lịch văn hóa giữa các địa phương có đồng bào Chăm sinh sống, góp phần xây dựng các sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng, nâng cao sức cạnh tranh và vị thế của du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn