Thưa bà, bà hãy cho biết chỉ dẫn địa lý đang được khai thác ở mức độ nào trong các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường cho các đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Trước hết, cần nhìn nhận rõ chỉ dẫn địa lý là một công cụ để xác lập thông tin và khẳng định nguồn gốc, danh tiếng cũng như đặc thù của sản phẩm thông qua một vùng địa lý cụ thể.
Chỉ dẫn địa lý cũng là một cơ sở để người tiêu dùng, người mua hàng củng cố niềm tin, từ đó có thể trả giá cao hơn cho những sản phẩm mà họ lựa chọn. Thực tế cho thấy, một số sản phẩm như mật ong bạc hà Mèo Vạc tại Hà Giang sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã có giá trị tăng gấp đôi; cam Cao Phong hoặc cam Vinh tăng hơn 50%; bưởi Phúc Trạch hay nước mắm Phú Quốc cũng tăng từ 30 - 50%.
Đến nay, cả nước có khoảng 130 chỉ dẫn địa lý, tập trung ở các nhóm mặt hàng chính là trái cây, thủy sản; dược liệu chiếm khoảng 10%. Điều đó cho thấy chúng ta vẫn còn dư địa rất lớn để phát triển chỉ dẫn địa lý, đặc biệt đối với các sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Tuy nhiên, bảo hộ chỉ dẫn địa lý mới chỉ là nền tảng sơ khai và là bước đầu tiên. Để tạo ra giá trị thương mại, cần chú trọng khai thác sau khi bảo hộ chỉ dẫn địa lý để giúp sản phẩm tiếp cận được hệ thống phân phối trong nước cũng như có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như quy chuẩn chất lượng hay các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, nhận diện thương hiệu, thiết kế bao bì sản phẩm, cũng như những yêu cầu riêng của từng thị trường xuất khẩu mà sản phẩm hướng tới.
Trong quá trình đó, xúc tiến thương mại chính là một mắt xích để khẳng định và xác lập chỉ dẫn địa lý ra thị trường thông qua các hoạt động như tham gia triển lãm, hội chợ, quảng bá sản phẩm ở trong nước và nước ngoài.
Theo tôi, chỉ dẫn địa lý chính là một “tấm vé thông hành”, một “quyển hộ chiếu” có thể đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Ví dụ cụ thể là nước mắm Phú Quốc - chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Việt Nam được bảo hộ tại thị trường EU. Nhờ vậy mà sản phẩm đã đạt được những tiêu chuẩn khắt khe của các nước EU cũng như thị trường Nhật Bản.
Điều quan trọng là chúng ta phải chuyển từ bảo hộ chỉ dẫn địa lý sang khai thác chỉ dẫn địa lý như một giá trị thương mại.
Từ thực tiễn xúc tiến thương mại, đâu là những điểm nghẽn ở khâu phát triển và kết nối thị trường khiến nhiều sản phẩm đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đặc biệt là các đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chưa phát huy tương xứng lợi thế về nguồn gốc, danh tiếng và đặc tính riêng, thưa bà?
Từ thực tế xúc tiến thương mại, tôi nhận thấy có bốn điểm nghẽn chính.
Thứ nhất là về sản phẩm. Phần lớn các sản phẩm mới dừng lại là sản phẩm tươi sống hoặc chế biến thô, chưa có quy trình sản xuất chuyên nghiệp, bài bản. Hầu như chúng ta sản xuất ồ ạt, đồng loạt và phá vỡ vùng sản xuất được bảo hộ, làm cho chất lượng sản phẩm không tương xứng, không đồng đều, đồng thời nguồn cung có thể vượt quá nhu cầu thị trường.
Thứ hai là bài toán nhận diện chỉ dẫn địa lý chưa gắn liền với phát triển nhận diện thương hiệu. Có những sản phẩm gắn với địa danh rất nổi tiếng nhưng bao bì, nhận diện thương hiệu chưa được đầu tư bài bản, khiến người tiêu dùng, người mua hàng chưa biết đến nhiều, làm cho cả chỉ dẫn địa lý cũng như sản phẩm đều chưa có giá trị cao trên thị trường.
Thứ ba là hoạt động xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp và hợp tác xã còn thiếu tính liên tục. Chúng ta tham dự hội chợ, tham gia các giao dịch giao thương trong nước và nước ngoài nhưng nhiều trường hợp chỉ dừng lại ở thời điểm đó. Sau khi giao dịch kết thúc, chúng ta không có sự kết nối liên tục với người mua hàng hoặc xử lý những vấn đề kỹ thuật liên quan đến sản phẩm, dẫn đến chưa mang lại nhiều hợp đồng ổn định.
Điểm nghẽn cuối cùng là năng lực nội tại của doanh nghiệp và các chủ thể sản xuất còn hạn chế, kể cả về năng lực ngoại ngữ, marketing hay năng lực tìm hiểu và phân tích thị trường chưa được trau dồi, khiến khả năng tiếp cận các kênh phân phối hiện đại còn yếu.
Về phía doanh nghiệp, hợp tác xã và các chủ thể sản xuất, để mở đầu ra cho sản phẩm, trước hết cần xác định rõ thị trường và khách hàng mục tiêu để tổ chức sản xuất ổn định về chất lượng cũng như sản lượng, hạn chế việc mở rộng vùng sản xuất làm “loãng” chỉ dẫn địa lý.
Cùng với đó, cần đầu tư bài bản hơn cho bao bì, nhận diện thương hiệu để sản phẩm gắn liền với câu chuyện vùng miền và tri thức bản địa.
Các chủ thể cũng nên chủ động, kiên trì tham gia các chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư cho hoạt động này trong một quá trình dài. Không chỉ riêng vào thời điểm giao dịch đó mà cần tiếp tục kết nối với người mua hàng và phát triển những mối quan hệ sau này.
Đặc biệt, doanh nghiệp, HTX cần trau dồi kiến thức về các kênh phân phối hiện đại, như đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, đồng thời tăng cường kiến thức về AI.
Thưa bà, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương có những định hướng và giải pháp gì về xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu và kết nối thị trường nhằm hỗ trợ các chủ thể sản xuất, địa phương khai thác hiệu quả hơn giá trị thương mại của các sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, đặc biệt là đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Trong thời gian tới, việc khai thác giá trị thương mại của các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý sẽ được đặt trong tổng thể các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu và các hoạt động khác của Cục Xúc tiến thương mại.
Chúng tôi luôn tăng cường cung cấp thông tin và kết nối nhu cầu thị trường thông qua mạng lưới xúc tiến thương mại, trong đó có mạng lưới Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, các hiệp hội ngành hàng cũng như hệ thống phân phối khác.
Bên cạnh đó, chúng tôi tiếp tục nâng cao năng lực xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu, tập trung đào tạo về nghiên cứu, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, bao bì và các kỹ năng khác để tiếp cận nhà mua hàng, đưa sản phẩm có chỉ dẫn địa lý đến với các nhà mua hàng thông qua các công cụ xúc tiến thương mại số.
Thực tế hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Sở Công Thương Thành phố Đà Nẵng và Sở Công Thương Thành phố Cần Thơ tổ chức 4 khóa đào tạo về ứng dụng công nghệ AI trong xây dựng, quản trị thương hiệu và ứng dụng công nghệ AI trong thiết kế bao bì sản phẩm xuất khẩu, dự kiến tổ chức vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 năm nay.
Chúng tôi cũng mở rộng kết nối giao thương và hệ thống phân phối thông qua các hội chợ, triển lãm, chương trình quảng bá ngành hàng trong nước và nước ngoài; các chương trình được tổ chức định kỳ hàng năm như Vietnam Expo, Vietnam Foodexpo, Hội chợ Trái cây Việt Nam tại Trung Quốc, hay gần đây là Hội chợ Quốc gia Mùa Thu năm 2025 và Hội chợ Quốc gia Mùa Xuân năm 2026. Thông qua đó, chúng tôi tiếp tục nỗ lực đưa các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý đến với các nhà phân phối, hệ thống phân phối và người mua hàng quốc tế.
Cuối cùng, chúng tôi cũng đẩy mạnh số hóa hoạt động quảng bá và ứng dụng thương mại điện tử. Đây cũng là lĩnh vực Cục Xúc tiến thương mại đã có kinh nghiệm triển khai thực tế. Năm 2021, chúng tôi đã quảng bá 9 sản phẩm có chỉ dẫn địa lý và thương hiệu, chỉ dẫn địa lý của các nhóm ngành hàng. Bộ sản phẩm quảng bá bao gồm TVC, Flipbook và được dịch ra 6 ngôn ngữ tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc để gửi tới các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài cũng như các kênh phân phối khác, qua đó quảng bá sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý của Việt Nam.
Những giải pháp nêu trên không chỉ là định hướng, chủ trương mà đã và đang được triển khai trên thực tế.
Trong thời gian tới, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục lồng ghép các hoạt động và các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý đáp ứng đủ điều kiện về chất lượng, sản lượng, truy xuất nguồn gốc cũng như năng lực phù hợp vào các chương trình xúc tiến thương mại khác để từng bước chuyển giá trị chỉ dẫn địa lý được bảo hộ thành giá trị được thị trường nhận biết, ghi nhận và có giá trị thương mại.
Trân trọng cảm ơn bà!