Kỹ thuật nuôi cá đối mục trong ao đất

Kỹ thuật nuôi cá đối mục trong ao đất
Cá đối mục là đối tượng nuôi mới, ít bệnh tật, không phải sử dụng nhiều loại thuốc, quản lý và chăm sóc dễ, nguy cơ bị lan tràn dịch bệnh ít, tỷ lệ rủi do thấp, do vậy đối tượng nuôi này là một trong những hướng đi mới trong nghề nuôi trồng thuỷ sản. Có thể nuôi ghép cá đối mục với một số đối tượng khác như tôm sú và cua biển.

Có hai hình thức nuôi cá đối mục trong ao đất, đó là: Nuôi đơn (cá đối mục được nuôi bán thâm canh và thâm canh trong các ao nuôi chuyên canh) và nuôi ghép (cá đối mục thường được nuôi ghép với các loài cá khác như cá chép thường, cá trắm cỏ, cá chép bạc, cá rô phi và cá măng biển). Có thể nuôi được trong vùng nước lợ, nước ngọt và nước mặn.
Cá đối mục có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong họ cá đối. Ảnh: tomvang.com
 Cá đối mục  có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong họ cá đối.
Ảnh: tomvang.com

1. Chọn địa điểm ao nuôi

Nguồn nước dùng để nuôi cá đối mục thương phẩm phải sạch, không bị ô nhiễm, xa khu dân cư, xa nguồn nước thải công nghiệp, đảm bảo các yếu tố môi trường ổn định. Đồng thời, gần đường giao thông, gần nguồn cá giống (cá tự nhiên và nhân tạo), gần nguồn điện,…

Chọn vị trí xây dựng ao nuôi ở vùng trung triều, biên độ thủy triều khoảng 2-3 m để tiện cho việc cải tạo ao, tháo và lấy nước trong quá trình nuôi, các yếu tố môi trường phải đảm bảo các chỉ tiêu sau: Độ mặn 0-30 ‰, nhiệt độ 26- 32 độ C, hàm lượng oxy 3-5 mg/l, pH 7,5-8,5, NH3 < 1mg/l, H2S < 0,3mg/l, Chất đáy ao là cát bùn, bùn cát, bùn pha sét.

2. Thiết kế, xây dựng và chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi có diện tích 1.000 – 20.000 m2, tốt nhất là từ 2.000 – 5.000m2. Độ sâu mực nước từ 1,2 –1,5m, có cống cấp và thoát nước riêng, đáy cát hoặc cát bùn hơi dốc về phía cống thoát.

Cải tạo ao tốt, triệt để nhằm diệt trừ địch hại, mầm bệnh và các sinh vật cạnh tranh gây nguy hiểm cho cá giống. Các biện pháp cải tạo ao, chuẩn bị ao nuôi tiến hành như sau:

Ao nuôi phải được tháo cạn nước, vét bùn, rửa sạch đáy ao, rải vôi với liều lượng 10-20 kg/100 m2 với những ao có pH ≥ 6,5. Nếu ao có pH ≤ 6, phải tăng liều lượng bón vôi cho ao khoảng 30-50 kg/100 m2, kết hợp phơi đáy ao 3-5 ngày.

Trước khi thả giống, ao nuôi phải được cày bừa kỹ và bón lót bằng phân bò ủ hoai với liều lượng 2,5 - 5 tấn/ha. Sau đó lấy nước vào ao khoảng 25-30cm và giữ nguyên mực nước đó trong vòng 7-10 ngày để sinh vật phù du phát triển tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Mực nước trong ao sau đó được nâng 1,5-1,8 m và thả cá giống. Độ trong của ao nuôi được duy trì ở mức độ cần thiết (khoảng 20-30cm) bằng cách hàng tuần bón bổ sung thêm phân gà hoặc phân hóa học.

Thu hoạch cá đối mục. Ảnh: nghenong.com
      Thu hoạch cá đối mục. Ảnh: nghenong.com

3. Kỹ thuật chọn và thả cá

Cá giống thả vào ao nuôi cá thương phẩm phải đồng đều về kích thước, chiều dài toàn thân đạt 6-8 cm. Cá không bị bệnh, không xây sát, bơi lội hoạt bát, có màu trắng sáng.

Thả cá giống: Tùy vào việc nuôi đơn hay nuôi ghép mà hình thức thả giống khác nhau.

- Nuôi đơn: Sau khi cải tạo ao, lấy nước vào có thể thả cá giống nuôi ngay với mật độ 2-3 con/m2, cá giống có trọng lượng 10-15gam/con, mật độ thả từ 6.500-7.500 con/ha.

- Nuôi ghép: Nuôi ghép cá đối mục với cá rô phi và cá chép trong các ao nuôi bán thâm canh, cá đối giống được thả với mật độ 3.000- 4.000 con/ha, cá chép thường có trọng lượng 100 g/con được thả với mật độ 2000-3000 con/ha và cá rô phi giống có trọng lượng 10-15 gam/con được thả với mật độ 60.000-75.000 con/ha. Mục đích của việc nuôi ghép là để cá đối mục ăn bớt tảo và thức ăn thừa, hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm chi phí...

4. Chăm sóc và quản lý

a. Thức ăn và cách cho ăn:

Trong thời gian nuôi kéo dài khoảng 7-8 tháng, nếu cá đối được nuôi chuyên canh, với chế độ bón phân hợp lý có thể cung cấp đủ lượng thức ăn tự nhiên cần thiết. Trong nhiều trường hợp, cá đối có thể ăn trực tiếp thức ăn là phân gà và vẫn sinh trưởng tốt. Kiểm tra sự tăng trưởng của cá bằng cách lấy mẫu để đo chiều dài và cân trọng lượng cá, nếu tốc độ tăng trưởng không như mong đợi, có thể bổ sung thêm cám gạo hoặc cám lúa mì hoặc thức ăn tổng hợp với khối lượng khoảng 0,5-1% khối lượng cá trong ao nuôi. Hàng ngày kiểm tra môi trường ao nuôi, hoạt động bắt mồi của cá, và 7-10 ngày kiểm tra tốc độ tăng trưởng để điều chỉnh lượng thức ăn.

Sử dụng các loại máy đảo nước, máy sục khí để duy trì hàm lượng oxy hòa tan tối ưu, đặc biệt là sau khi mặt trời lặn. Trong thời gian đầu của quá trình nuôi chỉ chạy máy quạt nước vào buổi tối, khi cá lớn tùy theo tổng khối lượng cá trong ao mà điều chỉnh thời gian chạy máy quạt nước cho phù hợp.

Mực nước trong ao luôn duy trì trên 1,2 m, lượng nước thay đối với ao nuôi đơn từ 20–30%/ 1 lần thay nước, thời gian thay nước tùy theo mức độ ô nhiễm trong ao.

Khi cá đối được nuôi ghép với cá rô phi, cá chép thường và cá chép bạc. Trong trường hợp này, khi cho cá ăn người ta thường nhắm vào mục tiêu các loài cá nuôi khác và thức ăn của cá đối chỉ là các mảnh vụn của thức ăn vỡ ra, thức ăn thừa và thức ăn tự nhiên.

Sau 7-8 tháng nuôi ở khu vực cận nhiệt đới, cá đối mục có thể đạt trọng lượng 0,75-1 kg/con, nếu nuôi hai năm, cá đối mục có thể đạt 1,5-1,75 kg/con.

Trong nuôi chuyên canh, cá đối ăn thức ăn tự nhiên là chủ yếu và có bổ sung thêm thức ăn là các sản phẩm của các nhà máy xay và các nhà máy chế biến ngũ cốc. Trong nuôi kết hợp, thức ăn viên được sản xuất trong các nhà máy chuyên sản xuất thức ăn cá hoặc trong nhiều trường hợp các nhà máy chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm có một quy trình công nghệ sản xuất thức ăn cá. Thức ăn được chế biến dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của các đối tượng nuôi chủ yếu (ví dụ như cá rô phi và cá chép thường).

Thức ăn hiện nay dùng để nuôi cá đối mục là vấn đề không lớn, các nguồn nguyên liệu như cám gạo, bột ngũ cốc, bột cá, bột đậu lành... đều là nguồn thức ăn rất tốt dùng cho nuôi cá đối mục.

b. Quản lý các yếu tố môi trường:

Trong quá trình nuôi, thường xuyên theo dõi màu nước, xác định các yếu tố môi trường, theo dõi các yếu tố môi trường và tốc độ tăng trưởng của cá để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Theo dõi tình trạng sức khỏe, các bệnh lý để có biện pháp xử lý kịp thời.

c. Thay nước:

Đối với ao nuôi đơn thường xuyên thay nước và cấp nước thêm cho ao, lượng nước thay từ 20-30%.

Đối với ao nuôi ghép, do phải duy trì màu nước, thức ăn tự nhiên cho nên hạn chế thay nước, khoảng 3-5 ngày thay một lần.

Trong ao nuôi cá đối mục thương phẩm, mực nước phải đảm bảo độ sâu trên 1,2 m, độ trong 20-30 cm.

d. Phòng bệnh:

Hệ thống ao nuôi, trang thiết bị và dụng cụ trong trại sản xuất giống phải được thường xuyên vệ sinh, xử lý mầm bệnh và tiệt trùng.

Giống cá trước khi thả nuôi cần phải xử lý bệnh, tắm trong dung dịch Oxytetracylin 5 ppm. Thời gian khoảng 30-60 phút.

Thức ăn cho cá nên sử dụng thức ăn tươi sống gây nuôi trong ao, thức ăn là bột cám gạo, cám ngũ cốc, thức ăn tổng hợp phải mới, còn niên hạn sử dụng không nên sử dụng các loại thức ăn đã cũ hoặc ẩm mốc.

Cho cá ăn đúng liều lượng và đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho cá. Định kỳ thay nước để cải thiện điều kiện môi trường ao nuôi.

Theo hpstic.vn

Có thể bạn quan tâm

Mô hình hình sen cá mở hướng sinh kế bền vững vùng ngập lũ

Mô hình hình sen cá mở hướng sinh kế bền vững vùng ngập lũ

Tận dụng lợi thế đất ngập nước theo mùa, mô hình trồng sen kết hợp nuôi cá tại xã Tân Hưng, tỉnh Tây Ninh, đang mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mô hình này đang thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và nông dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Chuyển đổi trồng dừa hữu cơ phục vụ xuất khẩu

Chuyển đổi trồng dừa hữu cơ phục vụ xuất khẩu

Tỉnh Đồng Tháp là một trong những địa phương có diện tích dừa lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, với hơn 24.113 ha dừa, tập trung tại xã chuyên canh dừa trong vùng ngọt hóa Gò Công ở các địa phương phía Đông của tỉnh, với sản lượng khoảng 203.770 tấn trái/năm. Nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh cây dừa, các địa phương trong vùng chuyên canh dừa khuyến khích người dân ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật nông nghiệp thâm canh, chuyển đổi sang trồng dừa hữu cơ hướng tới phục vụ xuất khẩu.

Phát triển chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở vùng lõi Măng Ri

Phát triển chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở vùng lõi Măng Ri

Xã vùng cao Măng Ri là vùng lõi sinh trưởng tự nhiên của sâm Ngọc Linh tại tỉnh Quảng Ngãi. Từ các nghị quyết phát triển dược liệu của địa phương, mô hình liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân đang từng bước hình thành chuỗi giá trị khép kín cho loại dược liệu quý này.

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Tháng 4/2026, HĐND tỉnh Lai Châu đã ban hành quy định chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc nội trú, học sinh bán trú, học viên bán trú năm cuối cấp trung học phổ thông và cơ sở giáo dục để ôn thi, thi tốt nghiệp. Đây là một quyết sách đậm tính nhân văn, thể hiện sự quan tâm thiết thực của cấp ủy, chính quyền tỉnh Lai Châu đối với thế hệ trẻ vùng cao trong thời điểm quan trọng nhất của học sinh.

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều mô hình sản xuất hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững cho địa phương.

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Tháng Năm về trên vùng biên giới Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh, những cơn mưa đầu mùa bắt đầu làm dịu đi cái nắng gay gắt của miền Đông Nam Bộ. Trong khuôn viên trụ sở xã, “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” vừa được ra mắt trở thành nơi nhiều cán bộ, đảng viên, đoàn viên, học sinh tìm đến đọc sách, xem hình ảnh tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không gian ấy không chỉ là mô hình trưng bày mà đang dần trở thành nơi hun đúc niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng biên.

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Ngày 16/5, tại phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Y tế khu vực Hòa Bình phối hợp với Bệnh viện Tâm thần Vĩnh Phúc và Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú Hòa Bình tổ chức hội nghị truyền thông và sàng lọc sức khỏe tâm lý cho hơn 560 học sinh của nhà trường.

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng cao, tỉnh Phú Thọ đang xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng kỹ thuật tiên tiến đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần thay đổi tư duy sản xuất và nâng cao giá trị nông sản địa phương.

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Trong dòng chảy phát triển hôm nay, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ đang được nhìn nhận không chỉ như một nguồn gen quý hiếm, mà còn là "di sản sống" cần được bảo tồn, phát huy gắn với nâng cao đời sống người dân. Và để đánh thức trọn vẹn giá trị ấy, khoa học đang được đặt vào vị trí đồng hành cùng cộng đồng địa phương.

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Cây dâu tây đang dần trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Tại xã biên giới Dào San, mô hình trồng dâu tây đang mở ra hướng phát triển mới, giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Từng là địa bàn có tỷ lệ tảo hôn khá cao, xã Pu Sam Cáp (Lai Châu) đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc ngăn chặn hủ tục này. Sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, nhà trường và cộng đồng đã từng bước thay đổi nhận thức, giúp nhiều em nhỏ có cơ hội tiếp tục học tập, hướng tới tương lai bền vững.

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.