Ngày 4/4, đông đảo người dân và du khách tham gia, hòa mình vào Lễ hội Nàng Han tại xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Tương truyền, Nàng Han xuất thân trong một gia đình người Thái ở Chiềng Sa (nay là xã Phong Thổ). Nàng đứng đầu cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái, quật cường đánh giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về, Nàng Han gội đầu tại mó nước (giếng nước) của thôn Tây An, xã Phong Thổ rồi bay về trời. Từ đó, tưởng nhớ công ơn của nàng, nhân dân đã lập miếu thờ và tổ chức lễ hội ngay tại mó nước vào rằm tháng 2 âm lịch hằng năm.
Lễ hội Nàng Han năm 2026 được xã Phong Thổ tổ chức trong 2 ngày 4 - 5/4 gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức với các nghi thức rước nước, nghi lễ cúng “Nàng Han”; cúng sơn thần, thổ địa và mó nước “Nàng Han” thể hiện lòng tri ân, niềm tin tâm linh và ước vọng về cuộc sống bình yên, ấm no. Phần hội diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi, như: tái hiện nghi thức gội đầu của người Thái trắng, thi văn nghệ, thi ẩm thực dân tộc Thái, thi các môn thể thao truyền thống và trò chơi dân gian gồm: Đẩy gậy, bắn nỏ, tó má lẹ, tung còn… thu hút sự tham gia của đông đảo người dân và du khách.
Lễ hội Nàng Han là nét đẹp văn hóa tâm linh trong đời sống của đồng bào dân tộc Thái trắng ở xã Phong Thổ. Lễ hội được phục dựng và duy trì thường niên từ năm 2009 đến nay, được tổ chức nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân mạnh khỏe, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ngoài giá trị văn hóa, lịch sử, lễ hội còn mang ý nghĩa giáo dục các thế hệ về lòng yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm, đạo lý uống nước nhớ nguồn và bảo tồn, gìn giữ những nét văn hóa của địa phương.
Phát biểu khai mạc Lễ hội, ông Trịnh Khắc Tấn, Phó Chủ tịch UBND xã Phong Thổ, Trưởng Ban tổ chức Lễ hội, cho biết: Lễ hội Nàng Han từ lâu đã trở thành một biểu tượng văn hóa thiêng liêng gắn liền với đời sống văn hóa của đồng bào Thái ở Phong Thổ. Ngày nay, lễ hội lan tỏa rộng rãi, để lại dấu ấn sâu đậm đối với du khách. Chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư đã cùng nhau nỗ lực để phục dựng, gìn giữ và ngày càng phát huy giá trị văn hóa đó trong đời sống hiện đại.
Nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc nơi biên cương của Tổ quốc, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 17/02/2021 về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Từ đó đến nay, nhiều lễ hội, nghi thức trong đời sống sinh hoạt của đồng bào các dân tộc Thái, Mông, Lự, Lào… được phục dựng và tổ chức hằng năm tạo ra bức tranh đa màu sắc nhưng rất riêng biệt của các dân tộc tại Lai Châu.
Lễ hội là dịp để giới thiệu, tôn vinh và quảng bá mô hình du lịch cộng đồng và các giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc của dân tộc Thái trắng ở Phong Thổ đến với đồng bào cả nước, bạn bè trong, ngoài tỉnh và quốc tế. Thông qua đó, góp phần phát huy tiềm năng du lịch, thu hút du khách thập phương và các nhà đầu tư đến với xã biên cương Phong Thổ, Lai Châu./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn