Ngày 10/5, UBND xã Xuân Dương (tỉnh Thái Nguyên) đã khai mạc Lễ hội văn hóa truyền thống “Chợ tình Xuân Dương” năm 2026. Việc tổ chức lễ hội truyền thống này nhằm tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, nơi những câu hát Sli, hát Lượn làm say lòng du khách thập phương.
Được hình thành từ những năm đầu thế kỷ XX (khoảng năm 1911), trải qua hơn 100 năm thăng trầm của lịch sử, Chợ tình Xuân Dương vẫn duy trì được những nét đẹp nguyên sơ, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây không đơn thuần là một phiên chợ mua bán, mà là không gian văn hóa cộng đồng, nơi đồng bào các dân tộc trong và ngoài khu vực gặp gỡ, giao lưu và thắt chặt tình đoàn kết.
Theo thông lệ, lễ hội diễn ra vào ngày 24 và 25 tháng Ba âm lịch hàng năm. Tâm điểm của lễ hội là sự hội tụ của những nam thanh nữ tú trong những bộ trang phục truyền thống rực rỡ. Họ đến với nhau không ồn ào, mà bằng những lời Sli, câu Lượn tình tứ, trao gửi tâm tư tình cảm để rồi xích lại gần nhau hơn. Khi chiều tà buông xuống, trên những nẻo đường mòn về bản, tiếng hát chia tay đầy luyến lưu vẫn vang vọng, để rồi họ lại cùng hẹn ước: "Ngày này năm sau gặp lại".
Lễ hội năm 2026 mang một màu sắc đặc biệt khi chú trọng vào việc bảo tồn và phục dựng các giá trị truyền thống.
Tại buổi lễ, Chủ tịch UBND xã Nông Văn Phong, Trưởng Ban tổ chức lễ hội cho biết, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, nhân dân các dân tộc trong xã đều duy trì tốt đời sống lao động sản xuất, sinh hoạt, phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục của dân tộc mình.
Điểm nhấn tại lễ khai mạc là chương trình nghệ thuật tái hiện sinh động không gian chợ tình xưa qua hoạt cảnh “Buôn Slam háng nhỉ hả chập căn”. Chương trình được chia làm 3 chương mạch lạc: Chương I: Chợ phiên ngày ấy; Chương II: Nhớ thương câu hát vả Sli và Chương III: Tháng Ba về hội.
Bên cạnh đó, các tiết mục múa Sli của dân tộc Nùng hay màn hát múa ca ngợi tương lai đã tạo nên một bức tranh nghệ thuật đa sắc, khơi dậy niềm tự hào trong mỗi người dân.
Đến với Xuân Dương những ngày này, du khách không chỉ được "đắm say" trong âm nhạc mà còn được trải nghiệm các trò chơi dân gian và thưởng thức hương vị ẩm thực độc đáo của địa phương bên chén rượu nồng. Sau phần lễ chính, các đại biểu và du khách cùng di chuyển xuống bến sông Na Rì để theo dõi phần giao lưu hát Sli của các nghệ nhân đến từ Câu lạc bộ hát Sli xã Xuân Dương - một hình ảnh minh chứng cho sức sống bền bỉ của văn hóa dân gian trong lòng cộng đồng.
Ông Nông Văn Phong nhấn mạnh, việc tổ chức thành công Lễ hội Chợ tình Xuân Dương năm 2026 không chỉ là hiện thực hóa chủ trương bảo tồn bản sắc văn hóa của Đảng và Nhà nước, mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn cho nhân dân. Đây chính là đòn bẩy để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, nâng cao chất lượng đời sống và quảng bá hình ảnh con người Xuân Dương nồng hậu đến với bạn bè gần xa.
Phiên chợ tình rồi sẽ khép lại nhưng những câu Sli, điệu Lượn và hơi ấm của tình người vùng cao sẽ còn đọng lại, thôi thúc những bước chân tìm về trong mùa hội năm sau./.
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn