Di tích văn hóa Chăm ở Phong Nha – Kẻ Bàng

Di tích văn hóa Chăm ở Phong Nha – Kẻ Bàng
Trong Bản tin Lịch sử Địa lý lịch sử và mô tả (Bulletin de Géographie Historique et Descriptive) của Thư viện Quốc gia Pháp xuất bản năm 1897 cho biết, người phương Tây đến động Phong Nha (tỉnh Quảng Bình) đầu tiên là những cha cố người Pháp đang làm mục vụ tại vùng Troóc - Phong Nha - Cù Lạc.

Trong một bức thư của cha Bonin gửi cho cha Lesserteur viết: “Từ khi tôi thấy hang động đầu tiên cho đến bây giờ, tôi đã nhận thấy một sự thay đổi đáng ghi nhận. Trong vòng 10 năm, các vú đá đã lớn gấp đôi và nhiều vú đá mới đã hình thành. Lòng khe nước (vì hang động này thật ra chỉ là một khe nước ngầm) đã trở nên nguy hiểm và khó leo trèo. Ở đây, một vực thẳm không đáy là ở một bên cạnh bạn và bạn bước đi trên một sườn dốc đứng và trên lớp sỏi trơn trượt; ở đó nước đã khoét những hốc dưới đất và bạn bị ngăn cách với vực thẳm chỉ bằng một lớp đá mỏng đang hình thành, giống như thạch cao cứng hoặc vôi vữa cũ”.

Sau đó, trong một ghi chép được đọc tại Hội Hàn lâm Đông Dương (Société académique Indo-chinoise), cha xứ Lesserteur cho biết, trước đó cha xứ Frichot đã đến Phong Nha để can các bản văn tự khắc đá trong hang và đã lấy được 15 bản sao từ 15 vị trí khác nhau. Những bản sao này được in nguyên cảo trong nghiên cứu của hầu tước Crozier và tạp chí Pháp về ngoại quốc và thuộc địa (Revue Francaise de estranger et des colonies) ngày 11 tháng 11 năm 1885.

Như vậy, có thể thấy người Pháp đã đến Phong Nha rất sớm, từ giữa thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XIX, khoảng năm 1895 ông Camille Paris được Chính phủ Pháp cử đi thực hiện nhiệm vụ khoa học ở Việt Nam đã có chuyến khảo sát vùng núi Phong Nha - Kẻ Bàng và đã có báo cáo “Lộ trình ở Quảng Bình phía bắc Đồng Hới” đăng trong Bản tin Lịch sử địa lý và mô tả năm 1897.

Trong bài viết của ông C. Paris, ngoài việc mô tả những khó khăn trong cuộc thám sát, điều đáng chú ý là ông đã tập trung tìm kiếm những di sản văn hóa của người Chăm trong động Phong Nha. Ngay trong cửa động, C. Paris viết: “Bên phải lối vào, người Chàm (Chăm) đã dựng lên một phần tảng đá một bàn thờ bằng gạch, được người An Nam đã tô trát lại sau đó. Bàn thờ ngày xưa có dựng một tượng đá, chân bắt chéo, có môt chữ vạn (swastika) trên ngực, tóc che gáy. Người dân Phong Gia nói rằng lính Pháp đã lật bức tượng xuống sông. Tôi đã cho người lặn tìm nhưng không thấy”.
 
Cửa động Phong Nha.
Cửa động Phong Nha. 

Đi tìm dấu tích văn tự Chăm mà cha Frichot đã sao chép trước đây, những người chèo thuyền đã đưa C. Paris vào sâu trong hang, ông viết: “Sau vài phút tìm trên vách động, tôi nhìn thấy những văn tự thật sự phần nào đáp ứng các tiền khái niệm mà tôi đã mường tượng về chữ viết Chàm vốn đã chạm khắc tỉ mỉ lên các bia đá ở các tỉnh miền Nam... Các văn tự này được đưa vào các mặt lõm và chạy trên bề mặt một chút phẳng để viền các khuôn đúc từ phần nổi này sang phần nổi khác, trong tất cả các hướng và để ngoài tầm tay. Các văn tự hầu như dang dở hoặc chồng chéo, vụng về không theo một trật tự và hình dạng nào, như thể được viết vội vã, không chút tham vọng được khắc trên đá. Tôi bị thuyết phục khi nhận thấy rằng phần đá đầy các nét vẽ nguệch ngoạc được phủ một chất trầm tích mềm, bị bóc ra khi ấn ngón tay vào. Tôi cũng nhận thấy rằng chỗ tiếp nối các nhóm văn tự khắc đá tương ứng với các phần vách đá đã cứng và không có trầm tích”.

Công việc in dập các bản văn tự này hết sức khó khăn, đầu tiên ông thử phủ các chỗ trũng bằng mực tàu, sau đó in lại bằng giấy can, nhưng do mực bị pha loãng khi mặt giấy tiếp xúc với vách đá nên các bản dập không được như ý muốn. Sau đó nhờ sự giúp đỡ của cha Cadiere, họ tô đen từng ký tự rồi dập từng bản một. Khi các ký tự khắc trên đá đã được tô mực, họ đồ lại trên giấy Nhật một cách tỉ mỉ và chính xác.

Để có thể đồ lại được các văn bản, họ phải đứng trong một tư thế chông chênh không vững chắc, hoặc phải ngồi xổm, phải nằm nghiêng hoặc có lúc phải treo mình trên trần hang suýt rơi xuống vực thẳm. C. Paris cho biết, ông đã làm việc suốt trong 9 ngày, mỗi ngày làm việc từ 8 giờ sáng đến tận đêm dưới ánh sáng lập lòe và um tùm khói của những ngọn đuốc. Các ông đã in dập được 97 văn tự khắc đá trong hang Phong Nha bao gồm 162 trang.

Trong báo cáo của mình, ông đã vẽ lại sơ đồ vị trí các bản văn tự được đánh số từ 1 đến 97 trong hang khảo sát (Hang Bi Ký). Ông cho biết, các bản văn tự từ 1 đến 7 được thấy ở phần trên các măng đá mà phần lớn đã chạm vú đá tạo thành các cột nhũ đá ghép. Từ số 8 đến 59, các văn tự được khắc theo hàng trên một vách tối đang chuyển thành trong suốt. Từ số 60 đến 67, các văn tự hiện rõ ràng trên nền trầm tích trắng. Từ số 68 đến 73, các văn tự co cụm lại trong một lỗ bên thành hang. Các số từ 74 đến 82 được viết bằng màu đen trên một nền cứng. Từ số 95 đến 97 tách biệt khá rõ trên vách đối diện. Ông nhận xét: “Sự khác biệt trong cách viết chứng tỏ chữ viết đã tồn tại trên lớp phủ vách động vào thời đó và cả bây giờ”.

Trong quá trình tìm các bản văn tự Chăm, C. Paris đã đào bới lớp đất tích tụ trong các đài bán nguyệt nhỏ được hình thành bởi nước trên mặt đất, ông tìm thấy 3 bức tượng nhỏ bằng đất, đáp ứng khá tốt với dấu hiệu nhận dạng của tượng bị ném xuống sông trước đó. C. Paris viết: “Người dân nói rằng bức tượng bị ném xuống nước vốn được mang từ trong hang có văn tự khó đọc, và rằng những người tổ tiên ấy đã mang bức tượng đặt ở lối vào để tránh phải di chuyển dưới lòng đất lúc làm lễ tế” . C. Paris cũng đã tìm thấy một mẫu đất sét có văn tự còn giữ được tính mềm mại nguyên thủy và phải có hai ngày phơi ngoài trời để làm cho chúng cứng lại. Nhận xét về loại gạch làm đền thờ trong hang ông cho rằng: “Gạch ở đây tương tự gạch ở các tháp miền Nam... Nhưng khi xem xét bàn thờ ở lối vào đúng theo kiểu kiến trúc Chàm và các viên gạch của bàn thờ trong động vẫn còn chúng tôi có thể cho rằng người Chàm đã làm hai bức tượng, một tượng đặt ở lối vào cửa động và tượng kia đặt trong động và rằng bức tượng thứ nhất đã chịu số phận như bức tượng thứ hai”.

Cùng với việc thám sát động Phong Nha, ông C.Paris đã khảo sát thêm vùng Troóc và hang động vùng Lạc Sơn, Thiết Sơn (Tuyên Hóa). Ở Lạc Sơn, ông phát hiện thấy bàn thờ của người Chàm và 32 văn tự được khắc trên vách đá. Xuôi về làng Trung Ái (Quảng Trạch), ông phát hiện trên gò đất có một ngôi miếu và trong đó có hai bức tượng cụt tay góc Chàm; trong đó một bức vẫn còn trên bệ tượng.

Chuyến thám sát của nhà khoa học Pháp Camille Paris đến vùng bắc Đồng Hới, đặc biệt là động Phong Nha cuối thế kỷ XIX đã cho thấy những điểm sáng về phần đất nguyên sơ của người Chăm (Chàm) trên đất Quảng Bình.

Sang đầu thế kỷ XX, Tạp chí Extreme Asie số 34 năm 1929 có đăng bài Một cuộc du ngoạn ở  Phong Nha (Excursion aux Grottes de Phong Nha) của giáo sư P. Antoine kể về cuộc thám hiểm Phong Nha kéo dài 4 ngày đêm trong động. Theo P. Antoine, đây là lần thứ hai ông tới động Phong Nha. Lần trước, ông chỉ xem qua loa và chỉ mới đi vào được hai động bên ngoài theo bản đồ hướng dẫn của Madrolle và bản báo cáo của nhà thiên văn học người Anh, ông Barton tại sở Du lịch Huế.

Như vậy, trước chuyến thám hiểm lần hai này của P. Antoine đã có hai cuộc thám hiểm của người Pháp - ông Madrolle và của người Anh - ông Barton. Theo tài liệu sau này của ông Boufỉe cho biết thì ông Barton đã ở trong động suốt 14 ngày.

Trong bài viết của P. Antoine có những chi tiết đáng quan tâm. Trước hết là việc thờ cúng ở Phong Nha, P.Antoni viết: “Trong gian thứ nhất, ở bên phải, dưới vòm hang có ba cái bàn thờ nhỏ như thường thấy ở trong các chùa khác. Nhiều tàn hương và giấy bạc rải rác trên mặt đất chứng tỏ rằng những vị thần của động này được nhiều tín đồ thờ phụng cúng bái. Vả lại động Phong Nha cũng được dân chúng địa phương gọi là Chùa Hang. Ông từ giữ chùa ở cách đó 200 mét, trong một túp lều hẻo lánh giữa dãy đá hình bán nguyệt, trên hữu ngạn con sông”.

Cuộc thám hiểm của P.Antoni lúc bấy giờ hết sức khó khăn, vất vả. Họ phải đi bằng bè và dùng đến hàng trăm bó đuốc. Chỉ có thám hiểm ba gian hầm theo tuyến chúng ta đi du lịch ngày nay, họ phải mất 4 ngày đêm. Từ gian hầm số hai sang gian hầm số ba (theo cách gọi của P.Antoni) chỉ dài 400 mét mà họ phải trải qua 3 giờ đồng hồ và dùng hết 50 bó đuốc. Ở gian hầm Khắc Chữ (ngày nay ta gọi là hang Bi Ký), ông đã khảo sát khá kỹ và cũng như ông C. Paris, P. Antonie đã bắt gặp những chữ chàm được khắc trên đá ở một khe khá sâu không lối thoát. Tuy đã cố gắng tìm con đường thoát để tiếp tục cuộc du ngoạn nhưng cuối cùng họ chỉ có lối thoát duy nhất là quay lại theo hướng đông nam để ra cửa hang.

Tháng 5 năm 1929, ông M. Bouffier cùng các ông Charly, Pasqualaggi tổ chức một cuộc thám hiểm khác nhằm mục đích “Tiếp tục cuộc thám hiểm trước chúng tôi đã đến nhưng phải dừng lại”. Theo Boufier, đoàn của ông không nghiên cứu sâu và chi tiết những điều đã được khám phá trước đây, mà chính là tìm ra nguồn gốc con suối từ trong động chảy ra bằng cách theo con suối đó cho đến tận cùng để “cố gắng chứng minh giả thiết – có nhiều khả năng đúng đắn – cho rằng có một khúc suối lộ thiên nối liền với khúc suối ngầm trong động”, đó là con suối có tên là Rào Te nằm ở phía tây nam được ghi trên bản đồ hay không?
Cuộc thám hiểm của Buofier chỉ kéo dài trong 3 ngày nhưng phương tiện chuẩn bị khá đầy đủ. Đoàn của ông đi bằng hai thuyền độc mộc chở đầy các bó đuốc, 6 hộp các buya cung cấp chất đốt cho 3 cây đèn đất, nửa tá bao sáp, hai đèn bão thắp bằng dầu hỏa, 2 ngọn đèn điện, 1 chạy bằng máy điện, 1 chạy bằng pin (có 6 cặp pin dự trữ, mỗi cặp dùng trong 10 giờ). Đoàn của Boufier tiến vào sâu hơn lộ trình của P. Antone, theo như bản báo cáo thì ông đã vào hang số 4, nghe tiếng reo của một ngọn thác và đột ngột chảy xuống một ngọn suối. Ở đây họ gặp những cành cây trôi dạt nghi ngờ  sự nối thông với một dòng suối lộ thiên bên ngoài nhưng họ cũng không thể đi đến ngọn nguồn.

Ngày nay, với việc khảo sát của Hội Hang động Hoàng Gia Anh, thì việc chứng minh sông ngầm trong động Phong Nha là một hệ thống sông ngầm được nối thông với hệ thống sông suối lộ thiên là điều hiển nhiên, nhưng công việc của đoàn thám hiểm Boufier tại thời điểm đó là một cố gắng lớn.

Ngoài Phong Nha, nhiều nhà thám hiểm cũng đã thám sát một số hang động trong dãy núi đá vôi Kẻ Bàng. Đáng chú ý là cuộc thám hiểm Hang Đen (Trou Noir) , nay gọi là Hang Tối của E. Suluy. Theo mô tả của Suluy thì Hang Tối là một hang động đầy bí ẩn, vì thế, ngày nay trong việc khai thác tuyến du lịch này những người quản lý du lịch ở Phong Nha – Kẻ Bàng cần phải có sự khảo sát thận trọng.

Những cuộc thám sát, nghiên cứu hang động  của các nhà khoa học phương Tây giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX cho chúng ta thấy không những về cảnh quan, kiến tạo địa chất lúc bấy giờ mà còn có các dấu tích văn hóa Chăm và phong tục, tập quán của cư dân bản địa. Đó là những tư liệu quý để hoạch định một chiến lược bảo tồn, phát huy hiệu quả một cách bền vững của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng.
Theo baoquangbinh.vn

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Tối 30/4, UBND xã Măng Đen tổ chức chương trình nghệ thuật “Măng Đen – Khát vọng vươn xa”. Đây là hoạt động trọng tâm trong chuỗi các sự kiện văn hóa – nghệ thuật của Khu du lịch sinh thái Măng Đen nhân dịp kỷ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam – Thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 1/5.

Khai mạc Lễ hội mùa hè Sa Pa năm 2026

Khai mạc Lễ hội mùa hè Sa Pa năm 2026

Tối 29/4, tại trung tâm Khu du lịch quốc gia Sa Pa (Lào Cai), Lễ hội mùa hè Sa Pa 2026 chính thức khai mạc. Đây là sự kiện quan trọng, điểm nhấn trong chuỗi “Lễ hội 5 mùa” của phường Sa Pa, góp phần đẩy mạnh kích cầu, xúc tiến và quảng bá du lịch trên địa bàn phường, khu vực và của cả tỉnh.

Câu chuyện bảo tồn kiến trúc nhà Hà Nhì

Câu chuyện bảo tồn kiến trúc nhà Hà Nhì

Ngày 28/4, tại Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức tọa đàm khoa học với chủ đề: "Hành trình di sản: Câu chuyện bảo tồn kiến trúc nhà Hà Nhì".

Địa chỉ đỏ trên 'tọa độ lửa' biên giới Tây Nam

Địa chỉ đỏ trên 'tọa độ lửa' biên giới Tây Nam

Nằm dưới những hàng thốt nốt cổ thụ tại xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), chùa Snayđonkum - “chùa B-52” từng là “tọa độ lửa” kiên cường, nơi thắt chặt tình đoàn kết Kinh - Khmer trong những năm tháng kháng chiến hào hùng. Trải qua nửa thế kỷ, ngôi chùa mãi là biểu tượng cho ý chí quật cường và sức sống mãnh liệt của vùng đất Bảy Núi An Giang.

Lễ hội Khèn Mông - nơi hội tụ của sắc màu văn hóa

Lễ hội Khèn Mông - nơi hội tụ của sắc màu văn hóa

Giữa không gian cổ kính của phố cổ Đồng Văn (khu vực thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang cũ, nay là xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang), khi những dãy nhà trình tường nhuốm màu thời gian còn vương hơi sương sớm, tiếng khèn Mông lại cất lên, khi trầm lắng, khi rộn ràng, như một mạch chảy âm thầm nối quá khứ với hiện tại.

Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn

Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn

Nhân dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước, tại Khu du lịch sinh thái Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân xã Măng Đen tổ chức các hoạt động văn hóa, du lịch; trong đó, điểm nhấn là Lễ hội đường phố với chủ đề “Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn”. Lễ hội có sự tham gia của 300 nghệ nhân tại các thôn, các em học sinh và các ca sĩ, nghệ sĩ.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao' sẽ diễn ra tại Sơn La từ ngày 8 - 10/5

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao' sẽ diễn ra tại Sơn La từ ngày 8 - 10/5

Thông tin từ Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Triển lãm “Hương sắc vùng cao” sẽ diễn ra từ ngày 8 - 10/5/2026, tại Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, tổ dân phố 7, phường Mộc Sơn, tỉnh Sơn La. Sự kiện do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La chỉ đạo Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức.

Âm vang đại ngàn trong đêm hội 'Đại ngàn Reo'

Âm vang đại ngàn trong đêm hội 'Đại ngàn Reo'

Tối 25/4, chương trình nghệ thuật “Đại ngàn Reo”– điểm nhấn của Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026 diễn ra trong không khí sôi động, đậm sắc màu đại ngàn.

Giữ hồn chữ Thái cổ nơi miền Tây Nghệ An

Giữ hồn chữ Thái cổ nơi miền Tây Nghệ An

Từng đứng trước nguy cơ mai một, song tiếng Thái Lai Tay ở Nghệ An đã phục hồi và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời được mã hóa trong hệ thống ký tự toàn cầu. Thành quả ấy không chỉ là dấu mốc quan trọng trong công tác bảo tồn văn hóa, mà còn là kết tinh của những nỗ lực âm thầm, bền bỉ của nhiều cá nhân, cộng đồng tâm huyết với di sản dân tộc.

Sôi động lễ hội đường phố 'Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn'

Sôi động lễ hội đường phố 'Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn'

Ngày 25/4, tại Khu du lịch sinh thái Măng Đen (tỉnh Quảng Ngãi), UBND xã Măng Đen tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, du lịch dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Điểm nhấn của chương trình là Lễ hội đường phố với chủ đề “Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn”, mang đến cho du khách không gian văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào nơi núi rừng.

Độc đáo lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui tại Di tích Plei Ơi

Độc đáo lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui tại Di tích Plei Ơi

Ngày 25/4, tại Khu Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Plei Ơi, UBND xã Chư A Thai (Gia Lai) tổ chức Lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui năm 2026 với nhiều hoạt động phong phú, đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.

Khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực 'Lan tỏa hương vị Xứ Dừa'

Khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực 'Lan tỏa hương vị Xứ Dừa'

Tối 24/4, tại Công viên Mỹ Hóa, phường Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long, Lễ khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực năm 2026 với chủ đề “Lan tỏa hương vị Xứ Dừa” đã diễn ra. Đây là hoạt động kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và 140 năm Ngày Quốc tế lao động (1/5/1886 - 1/5/2026).

Bắc Hoa - vẻ đẹp nguyên sơ từ nếp nhà đất đến nhịp sống bản địa

Bắc Hoa - vẻ đẹp nguyên sơ từ nếp nhà đất đến nhịp sống bản địa

Nép mình giữa những triền núi xanh ngát và những thửa ruộng uốn lượn, thôn Bắc Hoa thuộc xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh vẫn còn lưu giữ trọn vẹn nhịp sống mộc mạc của người dân miền sơn cước. Từ nếp nhà đất, mái ngói phủ rêu đến tiếng cười trẻ nhỏ, tất cả tạo nên một không gian văn hóa chân thực, giàu cảm xúc. Trong định hướng phát triển du lịch nông thôn gắn với bảo tồn bản sắc, Bắc Hoa có tiềm năng trở thành điểm đến trải nghiệm - nơi du khách không chỉ “đi để ngắm” mà còn “ở để cảm”, “sống để hiểu” về đời sống bản địa.

Hát Xoan phục vụ du khách dịp Lễ hội Đền Hùng 2026

Hát Xoan phục vụ du khách dịp Lễ hội Đền Hùng 2026

Trong không khí linh thiêng của Giỗ Tổ Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ tổ chức chuỗi hoạt động trình diễn hát Xoan làng cổ, tạo điểm nhấn văn hóa đặc sắc phục vụ nhân dân và du khách thập phương; đồng thời tiếp tục khẳng định những nỗ lực bền bỉ trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới.Tái hiện đầy đủ các chặng Xoan truyền thống

Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra tại Khánh Hòa

Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra tại Khánh Hòa

Thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra từ ngày 26 - 28/6 tại Khánh Hòa, với sự tham gia của 7 tỉnh, thành phố có đông đồng bào Chăm sinh sống gồm: Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, An Giang, Đắk Lắk và Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ lửa Shan tuyết, mở đường du lịch Cao Bồ

Giữ lửa Shan tuyết, mở đường du lịch Cao Bồ

Trong tiết trời se lạnh của vùng cao Tây Côn Lĩnh, khi sương sớm còn lững lờ trên những triền núi, ngày 20/4, người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) rộn ràng bước vào Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026. Không gian đậm bản sắc văn hóa cùng những bếp lửa sao chè đỏ hồng đã trở thành điểm nhấn cuốn hút, níu chân đông đảo người dân và du khách.

Quảng bá nét độc đáo văn hóa Vĩnh Long tại Hà Nội

Quảng bá nét độc đáo văn hóa Vĩnh Long tại Hà Nội

Giữa không gian Làng Văn hóa - Du lịch các Dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP. Hà Nội), chương trình giao lưu với chủ đề “Cùng chung niềm vui” đã giới thiệu, quảng bá nét đặc sắc văn hóa đồng bào các dân tộc tỉnh Vĩnh Long đến đông đảo người dân Thủ đô.

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4: Nghi thức buộc chỉ cổ tay của người Ơ Đu

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4: Nghi thức buộc chỉ cổ tay của người Ơ Đu

Trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc Ơ Đu – một trong những dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam, cư trú chủ yếu tại bản Văng Môn (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) - nghi thức buộc chỉ cổ tay không chỉ là phong tục mà còn là biểu tượng sâu sắc của niềm tin tâm linh, sự gắn kết cộng đồng và quan niệm về con người trong vũ trụ.

‘Tiếng vọng buôn làng’ ngân vang trong không gian văn hoá dân tộc

‘Tiếng vọng buôn làng’ ngân vang trong không gian văn hoá dân tộc

Trong chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam (19/4/2026), người dân và du khách đã có dịp thưởng thức nhiều chương trình giao lưu nghệ thuật đặc sắc, nổi bật là chương trình giao lưu “Tiếng vọng buôn làng” của đồng bào Chu Ru (tỉnh Lâm Đồng) cùng các dân tộc Tây Nguyên.

Tái hiện Lễ hội ok-om-bok của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long

Tái hiện Lễ hội ok-om-bok của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long

Ngày 18/4/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội), nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, diễn ra hoạt động tái hiện Lễ hội ok-om-bok (cúng trăng) của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long. Lễ Ok Om Bok không chỉ là nghi lễ tâm linh thể hiện lòng biết ơn vị thần mặt trăng trong tín ngưỡng của đồng bào Khmer mà là dịp để gắn kết tình làng nghĩa xóm, bảo tồn giá trị văn hóa của đồng bào Khmer.

Tái hiện tục nhận đệ tử của người Tày, tỉnh Quảng Ninh

Tái hiện tục nhận đệ tử của người Tày, tỉnh Quảng Ninh

Ngày 18/4/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội), nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, diễn ra hoạt động tái hiện nghi lễ “Nhận và dạy con tràng nhập môn” của đồng bào dân tộc Tày, tỉnh Quảng Ninh. Nghi lễ là một trong những nghi thức quan trọng, đánh dấu sự khởi đầu của quá trình truyền dạy và kế tục nghề Then - một di sản văn hóa được lưu truyên qua nhiều thế hệ.