Di tích văn hóa Chăm ở Phong Nha – Kẻ Bàng

Di tích văn hóa Chăm ở Phong Nha – Kẻ Bàng
Trong Bản tin Lịch sử Địa lý lịch sử và mô tả (Bulletin de Géographie Historique et Descriptive) của Thư viện Quốc gia Pháp xuất bản năm 1897 cho biết, người phương Tây đến động Phong Nha (tỉnh Quảng Bình) đầu tiên là những cha cố người Pháp đang làm mục vụ tại vùng Troóc - Phong Nha - Cù Lạc.

Trong một bức thư của cha Bonin gửi cho cha Lesserteur viết: “Từ khi tôi thấy hang động đầu tiên cho đến bây giờ, tôi đã nhận thấy một sự thay đổi đáng ghi nhận. Trong vòng 10 năm, các vú đá đã lớn gấp đôi và nhiều vú đá mới đã hình thành. Lòng khe nước (vì hang động này thật ra chỉ là một khe nước ngầm) đã trở nên nguy hiểm và khó leo trèo. Ở đây, một vực thẳm không đáy là ở một bên cạnh bạn và bạn bước đi trên một sườn dốc đứng và trên lớp sỏi trơn trượt; ở đó nước đã khoét những hốc dưới đất và bạn bị ngăn cách với vực thẳm chỉ bằng một lớp đá mỏng đang hình thành, giống như thạch cao cứng hoặc vôi vữa cũ”.

Sau đó, trong một ghi chép được đọc tại Hội Hàn lâm Đông Dương (Société académique Indo-chinoise), cha xứ Lesserteur cho biết, trước đó cha xứ Frichot đã đến Phong Nha để can các bản văn tự khắc đá trong hang và đã lấy được 15 bản sao từ 15 vị trí khác nhau. Những bản sao này được in nguyên cảo trong nghiên cứu của hầu tước Crozier và tạp chí Pháp về ngoại quốc và thuộc địa (Revue Francaise de estranger et des colonies) ngày 11 tháng 11 năm 1885.

Như vậy, có thể thấy người Pháp đã đến Phong Nha rất sớm, từ giữa thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XIX, khoảng năm 1895 ông Camille Paris được Chính phủ Pháp cử đi thực hiện nhiệm vụ khoa học ở Việt Nam đã có chuyến khảo sát vùng núi Phong Nha - Kẻ Bàng và đã có báo cáo “Lộ trình ở Quảng Bình phía bắc Đồng Hới” đăng trong Bản tin Lịch sử địa lý và mô tả năm 1897.

Trong bài viết của ông C. Paris, ngoài việc mô tả những khó khăn trong cuộc thám sát, điều đáng chú ý là ông đã tập trung tìm kiếm những di sản văn hóa của người Chăm trong động Phong Nha. Ngay trong cửa động, C. Paris viết: “Bên phải lối vào, người Chàm (Chăm) đã dựng lên một phần tảng đá một bàn thờ bằng gạch, được người An Nam đã tô trát lại sau đó. Bàn thờ ngày xưa có dựng một tượng đá, chân bắt chéo, có môt chữ vạn (swastika) trên ngực, tóc che gáy. Người dân Phong Gia nói rằng lính Pháp đã lật bức tượng xuống sông. Tôi đã cho người lặn tìm nhưng không thấy”.
 
Cửa động Phong Nha.
Cửa động Phong Nha. 

Đi tìm dấu tích văn tự Chăm mà cha Frichot đã sao chép trước đây, những người chèo thuyền đã đưa C. Paris vào sâu trong hang, ông viết: “Sau vài phút tìm trên vách động, tôi nhìn thấy những văn tự thật sự phần nào đáp ứng các tiền khái niệm mà tôi đã mường tượng về chữ viết Chàm vốn đã chạm khắc tỉ mỉ lên các bia đá ở các tỉnh miền Nam... Các văn tự này được đưa vào các mặt lõm và chạy trên bề mặt một chút phẳng để viền các khuôn đúc từ phần nổi này sang phần nổi khác, trong tất cả các hướng và để ngoài tầm tay. Các văn tự hầu như dang dở hoặc chồng chéo, vụng về không theo một trật tự và hình dạng nào, như thể được viết vội vã, không chút tham vọng được khắc trên đá. Tôi bị thuyết phục khi nhận thấy rằng phần đá đầy các nét vẽ nguệch ngoạc được phủ một chất trầm tích mềm, bị bóc ra khi ấn ngón tay vào. Tôi cũng nhận thấy rằng chỗ tiếp nối các nhóm văn tự khắc đá tương ứng với các phần vách đá đã cứng và không có trầm tích”.

Công việc in dập các bản văn tự này hết sức khó khăn, đầu tiên ông thử phủ các chỗ trũng bằng mực tàu, sau đó in lại bằng giấy can, nhưng do mực bị pha loãng khi mặt giấy tiếp xúc với vách đá nên các bản dập không được như ý muốn. Sau đó nhờ sự giúp đỡ của cha Cadiere, họ tô đen từng ký tự rồi dập từng bản một. Khi các ký tự khắc trên đá đã được tô mực, họ đồ lại trên giấy Nhật một cách tỉ mỉ và chính xác.

Để có thể đồ lại được các văn bản, họ phải đứng trong một tư thế chông chênh không vững chắc, hoặc phải ngồi xổm, phải nằm nghiêng hoặc có lúc phải treo mình trên trần hang suýt rơi xuống vực thẳm. C. Paris cho biết, ông đã làm việc suốt trong 9 ngày, mỗi ngày làm việc từ 8 giờ sáng đến tận đêm dưới ánh sáng lập lòe và um tùm khói của những ngọn đuốc. Các ông đã in dập được 97 văn tự khắc đá trong hang Phong Nha bao gồm 162 trang.

Trong báo cáo của mình, ông đã vẽ lại sơ đồ vị trí các bản văn tự được đánh số từ 1 đến 97 trong hang khảo sát (Hang Bi Ký). Ông cho biết, các bản văn tự từ 1 đến 7 được thấy ở phần trên các măng đá mà phần lớn đã chạm vú đá tạo thành các cột nhũ đá ghép. Từ số 8 đến 59, các văn tự được khắc theo hàng trên một vách tối đang chuyển thành trong suốt. Từ số 60 đến 67, các văn tự hiện rõ ràng trên nền trầm tích trắng. Từ số 68 đến 73, các văn tự co cụm lại trong một lỗ bên thành hang. Các số từ 74 đến 82 được viết bằng màu đen trên một nền cứng. Từ số 95 đến 97 tách biệt khá rõ trên vách đối diện. Ông nhận xét: “Sự khác biệt trong cách viết chứng tỏ chữ viết đã tồn tại trên lớp phủ vách động vào thời đó và cả bây giờ”.

Trong quá trình tìm các bản văn tự Chăm, C. Paris đã đào bới lớp đất tích tụ trong các đài bán nguyệt nhỏ được hình thành bởi nước trên mặt đất, ông tìm thấy 3 bức tượng nhỏ bằng đất, đáp ứng khá tốt với dấu hiệu nhận dạng của tượng bị ném xuống sông trước đó. C. Paris viết: “Người dân nói rằng bức tượng bị ném xuống nước vốn được mang từ trong hang có văn tự khó đọc, và rằng những người tổ tiên ấy đã mang bức tượng đặt ở lối vào để tránh phải di chuyển dưới lòng đất lúc làm lễ tế” . C. Paris cũng đã tìm thấy một mẫu đất sét có văn tự còn giữ được tính mềm mại nguyên thủy và phải có hai ngày phơi ngoài trời để làm cho chúng cứng lại. Nhận xét về loại gạch làm đền thờ trong hang ông cho rằng: “Gạch ở đây tương tự gạch ở các tháp miền Nam... Nhưng khi xem xét bàn thờ ở lối vào đúng theo kiểu kiến trúc Chàm và các viên gạch của bàn thờ trong động vẫn còn chúng tôi có thể cho rằng người Chàm đã làm hai bức tượng, một tượng đặt ở lối vào cửa động và tượng kia đặt trong động và rằng bức tượng thứ nhất đã chịu số phận như bức tượng thứ hai”.

Cùng với việc thám sát động Phong Nha, ông C.Paris đã khảo sát thêm vùng Troóc và hang động vùng Lạc Sơn, Thiết Sơn (Tuyên Hóa). Ở Lạc Sơn, ông phát hiện thấy bàn thờ của người Chàm và 32 văn tự được khắc trên vách đá. Xuôi về làng Trung Ái (Quảng Trạch), ông phát hiện trên gò đất có một ngôi miếu và trong đó có hai bức tượng cụt tay góc Chàm; trong đó một bức vẫn còn trên bệ tượng.

Chuyến thám sát của nhà khoa học Pháp Camille Paris đến vùng bắc Đồng Hới, đặc biệt là động Phong Nha cuối thế kỷ XIX đã cho thấy những điểm sáng về phần đất nguyên sơ của người Chăm (Chàm) trên đất Quảng Bình.

Sang đầu thế kỷ XX, Tạp chí Extreme Asie số 34 năm 1929 có đăng bài Một cuộc du ngoạn ở  Phong Nha (Excursion aux Grottes de Phong Nha) của giáo sư P. Antoine kể về cuộc thám hiểm Phong Nha kéo dài 4 ngày đêm trong động. Theo P. Antoine, đây là lần thứ hai ông tới động Phong Nha. Lần trước, ông chỉ xem qua loa và chỉ mới đi vào được hai động bên ngoài theo bản đồ hướng dẫn của Madrolle và bản báo cáo của nhà thiên văn học người Anh, ông Barton tại sở Du lịch Huế.

Như vậy, trước chuyến thám hiểm lần hai này của P. Antoine đã có hai cuộc thám hiểm của người Pháp - ông Madrolle và của người Anh - ông Barton. Theo tài liệu sau này của ông Boufỉe cho biết thì ông Barton đã ở trong động suốt 14 ngày.

Trong bài viết của P. Antoine có những chi tiết đáng quan tâm. Trước hết là việc thờ cúng ở Phong Nha, P.Antoni viết: “Trong gian thứ nhất, ở bên phải, dưới vòm hang có ba cái bàn thờ nhỏ như thường thấy ở trong các chùa khác. Nhiều tàn hương và giấy bạc rải rác trên mặt đất chứng tỏ rằng những vị thần của động này được nhiều tín đồ thờ phụng cúng bái. Vả lại động Phong Nha cũng được dân chúng địa phương gọi là Chùa Hang. Ông từ giữ chùa ở cách đó 200 mét, trong một túp lều hẻo lánh giữa dãy đá hình bán nguyệt, trên hữu ngạn con sông”.

Cuộc thám hiểm của P.Antoni lúc bấy giờ hết sức khó khăn, vất vả. Họ phải đi bằng bè và dùng đến hàng trăm bó đuốc. Chỉ có thám hiểm ba gian hầm theo tuyến chúng ta đi du lịch ngày nay, họ phải mất 4 ngày đêm. Từ gian hầm số hai sang gian hầm số ba (theo cách gọi của P.Antoni) chỉ dài 400 mét mà họ phải trải qua 3 giờ đồng hồ và dùng hết 50 bó đuốc. Ở gian hầm Khắc Chữ (ngày nay ta gọi là hang Bi Ký), ông đã khảo sát khá kỹ và cũng như ông C. Paris, P. Antonie đã bắt gặp những chữ chàm được khắc trên đá ở một khe khá sâu không lối thoát. Tuy đã cố gắng tìm con đường thoát để tiếp tục cuộc du ngoạn nhưng cuối cùng họ chỉ có lối thoát duy nhất là quay lại theo hướng đông nam để ra cửa hang.

Tháng 5 năm 1929, ông M. Bouffier cùng các ông Charly, Pasqualaggi tổ chức một cuộc thám hiểm khác nhằm mục đích “Tiếp tục cuộc thám hiểm trước chúng tôi đã đến nhưng phải dừng lại”. Theo Boufier, đoàn của ông không nghiên cứu sâu và chi tiết những điều đã được khám phá trước đây, mà chính là tìm ra nguồn gốc con suối từ trong động chảy ra bằng cách theo con suối đó cho đến tận cùng để “cố gắng chứng minh giả thiết – có nhiều khả năng đúng đắn – cho rằng có một khúc suối lộ thiên nối liền với khúc suối ngầm trong động”, đó là con suối có tên là Rào Te nằm ở phía tây nam được ghi trên bản đồ hay không?
Cuộc thám hiểm của Buofier chỉ kéo dài trong 3 ngày nhưng phương tiện chuẩn bị khá đầy đủ. Đoàn của ông đi bằng hai thuyền độc mộc chở đầy các bó đuốc, 6 hộp các buya cung cấp chất đốt cho 3 cây đèn đất, nửa tá bao sáp, hai đèn bão thắp bằng dầu hỏa, 2 ngọn đèn điện, 1 chạy bằng máy điện, 1 chạy bằng pin (có 6 cặp pin dự trữ, mỗi cặp dùng trong 10 giờ). Đoàn của Boufier tiến vào sâu hơn lộ trình của P. Antone, theo như bản báo cáo thì ông đã vào hang số 4, nghe tiếng reo của một ngọn thác và đột ngột chảy xuống một ngọn suối. Ở đây họ gặp những cành cây trôi dạt nghi ngờ  sự nối thông với một dòng suối lộ thiên bên ngoài nhưng họ cũng không thể đi đến ngọn nguồn.

Ngày nay, với việc khảo sát của Hội Hang động Hoàng Gia Anh, thì việc chứng minh sông ngầm trong động Phong Nha là một hệ thống sông ngầm được nối thông với hệ thống sông suối lộ thiên là điều hiển nhiên, nhưng công việc của đoàn thám hiểm Boufier tại thời điểm đó là một cố gắng lớn.

Ngoài Phong Nha, nhiều nhà thám hiểm cũng đã thám sát một số hang động trong dãy núi đá vôi Kẻ Bàng. Đáng chú ý là cuộc thám hiểm Hang Đen (Trou Noir) , nay gọi là Hang Tối của E. Suluy. Theo mô tả của Suluy thì Hang Tối là một hang động đầy bí ẩn, vì thế, ngày nay trong việc khai thác tuyến du lịch này những người quản lý du lịch ở Phong Nha – Kẻ Bàng cần phải có sự khảo sát thận trọng.

Những cuộc thám sát, nghiên cứu hang động  của các nhà khoa học phương Tây giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX cho chúng ta thấy không những về cảnh quan, kiến tạo địa chất lúc bấy giờ mà còn có các dấu tích văn hóa Chăm và phong tục, tập quán của cư dân bản địa. Đó là những tư liệu quý để hoạch định một chiến lược bảo tồn, phát huy hiệu quả một cách bền vững của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng.
Theo baoquangbinh.vn

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

“Tà Số - Mùa Xuân về” là chủ đề Chương trình Tết Mông năm 2026 do UBND phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Chương trình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dịp Tết cổ truyền của người Mông, mà còn là dịp để du khách khám phá nét đẹp nguyên sơ của Tà Số.

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng tại phường An Nhơn Bắc là một minh chứng điển hình cho sự bảo tồn và phát triển nghề truyền thống tại Gia Lai. Trải qua hàng trăm năm với nhiều thăng trầm, làng nghề không những không bị mai một mà ngày một phát triển, đã và đang tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

An Giang đang đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số trong văn hóa và bảo tàng để giúp người dân, du khách tiếp cận dễ dàng hơn với các hiện vật, tư liệu. Ban Quản lý di tích văn hoá Óc Eo tỉnh An Giang cũng nhanh chóng xây dựng kế hoạch, triển khai nhiều giải pháp để chuyển đổi số toàn diện hoạt động của Nhà trưng bày Văn hoá Óc Eo và các điểm di tích trọng điểm của Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Sáng 10/1, tại đảo hoa anh đào ở bản Kéo, UBND xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, đã tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng năm 2026, với chủ đề “Mường Phăng vào xuân - Hoa anh đào khoe sắc”. Với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, lễ hội đã thu hút hàng nghìn du khách nô nức đến dự và trải nghiệm.

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nằm ngay bên Quốc lộ 1A, tại xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm là một không gian văn hóa đặc thù, nơi lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những giá trị tiêu biểu của cộng đồng người Chăm. Với hệ thống hiện vật phong phú, không gian trưng bày khoa học cùng nhiều hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa, Trung tâm đang từng bước trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Cồng chiêng ngày nay không chỉ ngân vang trong các lễ hội, mà đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống đương đại. Từ buôn làng đến không gian cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa truyền thống đến các mô hình du lịch trải nghiệm, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng nòng cốt tiếp nối mạch nguồn di sản, gìn giữ và lan tỏa giá trị cồng chiêng Tây Nguyên.

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

An Giang là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ nay đến hết tháng 1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu tới công chúng các hoạt động đón Xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Dù đã cao tuổi, bà Ma Ly (71 tuổi, xã Quảng Lập, Lâm Đồng) vẫn miệt mài duy trì nghề làm gốm truyền thống của dân tộc Churu. Không chỉ cung cấp sản phẩm cho khách hàng, bà Ma Ly còn đón du khách trải nghiệm, truyền dạy nghề gốm truyền thống cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh.

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Ngày 1/1, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức chương trình đón du khách và chuyến bay đầu tiên đến tỉnh Điện Biên năm 2026 tại Cảng Hàng không Điện Biên.

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Trong không khí hân hoan của đồng bào dân tộc Chứt đón Tết Chăm Cha Bới (Tết mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và cầu mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Chứt), ngày 28/12, tại bản Rào Tre (xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức “Ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số” năm 2025.

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Trong tiến trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu, xây dựng và đưa vào sử dụng trang phục sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào Chứt, tỉnh Quảng Trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ lấp đầy “khoảng trống” văn hóa suốt nhiều năm, những bộ áo quần truyền thống được nghiên cứu công phu và trao cho cộng đồng còn tạo nền tảng để các giá trị văn hóa Chứt được gìn giữ, lan tỏa, tiếp nối bền vững trong đời sống đương đại.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

“Đồi thông hai mộ” từ lâu không chỉ là một truyện thơ mà còn là một địa danh nổi tiếng của vùng Mường Động tại xóm Đằng Long, xã Nật Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là miền ký ức văn hóa sâu thẳm của người Mường cổ, lan tỏa không gian cư trú cổ truyền trong không gian sáp nhập mới từ Hòa Bình đến Phú Thọ - nơi những câu chuyện tình, tín ngưỡng và cảnh quan hòa quyện thành nguồn lực du lịch văn hóa đặc sắc.

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Ngày 24/12, tại Đình cổ Hùng Lô - không gian trải nghiệm di sản văn hóa tiêu biểu vùng Đất Tổ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ tổ chức công bố Chương trình Du lịch học đường - Giáo dục di sản văn hóa vùng Đất Tổ.

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Làng gốm Chăm Bàu Trúc ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, là một trong những làng gốm cổ xưa nhất ở Đông Nam Á đến nay vẫn duy trì phương pháp sản xuất hoàn toàn thủ công với những giá trị văn hóa, kỹ thuật độc đáo. “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Không gian văn hóa nghệ thuật 22 Hàng Buồm (Hà Nội) những ngày qua vang lên những thanh âm rất đặc biệt – khi trầm hùng, ngân vọng của Chiêng Mường, khi rộn ràng, trang nghiêm của Nhạc Ngũ âm Khmer. Giữa lòng Thủ đô, những sắc âm đến từ núi rừng Phú Thọ và phum sóc Nam Bộ đã mang đến cho công chúng một trải nghiệm di sản sống động và đầy cảm xúc.

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Mường Lay là thị xã nhỏ miền núi thuộc tỉnh Điện Biên, nằm yên bình bên lòng hồ thủy điện Sơn La. Đây không chỉ là nơi sinh sống của cộng đồng người Thái trắng qua hàng trăm năm mà còn là vùng đất thấm đẫm nét đẹp văn hóa. Với những di sản độc đáo như múa xòe, đàn tính tẩu... Mường Lay được ví như một bảo tàng sống, lưu giữ trọn vẹn giá trị truyền thống của dân tộc Thái giữa đại ngàn Tây Bắc.