Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.
Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng Lê Thị Thu Trang phát biểu khai mạc sự kiện.
Phát biểu khai mạc chương trình, Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng Lê Thị Thu Trang cho biết, sự kiện là dịp nhìn lại chặng đường hợp tác giữa Bảo tàng và EFEO trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm; đồng thời mở ra các định hướng hợp tác mới trong thời gian tới.
Trong khuôn khổ chương trình, hai đơn vị công bố kết quả ký kết Bản thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2028. Theo đó, các nội dung hợp tác tập trung tăng cường nghiên cứu, trao đổi học thuật, bổ sung tư liệu và nội dung trưng bày. Đây được xem là dấu mốc quan trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm.
Cùng ngày, tọa đàm khoa học chủ đề “Nhịp cầu di sản - Từ việc thành lập Bảo tàng Henri Parmentier của EFEO đến sự phát triển của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng” diễn ra với sự tham dự của các chuyên gia đến từ EFEO tại Paris và Hà Nội cùng các nhà nghiên cứu trong nước.
Chia sẻ tại tọa đàm về “Sứ mệnh và thành tựu của EFEO tại Việt Nam đầu thế kỷ XX”, Trưởng đại diện Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp Philippe Le Failler cho biết, ngay từ khi thành lập năm 1900, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của EFEO là bảo vệ di sản trên toàn cõi Đông Dương. Theo đó, nhiều công trình, di tích và hiện vật được đề xuất xếp hạng, sau khi được công nhận, EFEO chịu trách nhiệm giám sát bảo dưỡng và trùng tu.
Trong khuôn khổ chương trình, hai đơn vị công bố kết quả ký kết Bản thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Ông Philippe Le Failler nhấn mạnh, giai đoạn 1900-1954, EFEO đã triển khai nhiều hoạt động quan trọng tại Việt Nam như: thành lập bảo tàng, thư viện, khai quật khảo cổ, dập văn bia, đo vẽ kiến trúc, kiểm soát xuất khẩu hiện vật và công bố các công trình nghiên cứu khoa học.
Tại tọa đàm, bà Nguyễn Hoàng Hương Duyên, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng cho rằng, hệ thống lưu trữ bảo tàng giữ vai trò quan trọng trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và giáo dục di sản. Tuy nhiên, hiện nay, bảo tàng vẫn thiếu nhiều nguồn tư liệu, đặc biệt đối với giai đoạn trước năm 1954.
Trưởng đại diện Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp Philippe Le Failler chia sẻ thông tin tại sự kiện.
Theo bà Nguyễn Hoàng Hương Duyên, thực trạng này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chuyên môn của bảo tàng. Vì vậy, việc tăng cường hợp tác với EFEO nhằm bổ sung nguồn tư liệu là yêu cầu cần thiết, hướng đến xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững trong công tác lưu trữ và bảo tồn di sản.
Chia sẻ về công tác phục chế hiện vật điêu khắc Chăm bằng sa thạch giai đoạn 2001 - 2010, chuyên gia phục chế tượng của EFEO Bertrand Porte cho biết, từ đầu những năm 2000 khi Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng bắt đầu các giai đoạn mở rộng và cải tạo, Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội đã hỗ trợ dự án hợp tác giữa Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, EFEO, Bảo tàng Guimet và Bảo tàng Quốc gia Campuchia nhằm hỗ trợ thiết kế không gian trưng bày mới, đồng thời bảo tồn và phục chế các bộ sưu tập điêu khắc.
Theo ông Bertrand Porte, dự án góp phần đưa di sản Chăm ra thế giới thông qua triển lãm “Báu vật Nghệ thuật Việt Nam: Điêu khắc Chămpa” tổ chức tại Paris năm 2006, trước khi các phòng trưng bày Mỹ Sơn và Đồng Dương của bảo tàng được khánh thành năm 2009.
Ông cũng cho biết, nhiều hiện vật Chăm cổ từng chưa được quan tâm đầy đủ kể từ khi thành lập bảo tàng đã được phục chế, di chuyển và bảo quản theo quy trình chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng trưng bày, phát huy giá trị các bộ sưu tập điêu khắc Chăm.
Quang cảnh sự kiện.
Dịp này, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng giới thiệu trưng bày chuyên đề ảnh “Từ khu vườn tượng Tourane đến Bảo tàng Henri Parmentier” với hơn 40 ảnh tư liệu từ kho lưu trữ của EFEO, tái hiện quá trình hình thành và phát triển của bảo tàng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Theo Ban tổ chức, sự kiện góp phần khẳng định vai trò của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng như một “nhịp cầu di sản”, thúc đẩy đối thoại học thuật, tăng cường hiểu biết và tôn trọng đa dạng văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn