Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, xã Tân Hưng (thành phố Đồng Nai) vừa tổ chức công bố và trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Câu lạc bộ được thành lập với 35 thành viên, trong đó Ban Chủ nhiệm gồm 7 thành viên do chị Điểu Thị Hồng giữ vai trò Chủ nhiệm.
Đưa văn hóa của đồng bào dân tộc S’tiêng đi xa hơn
Sự ra đời của Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng không chỉ tạo nên một sân chơi văn hóa cộng đồng bổ ích, lành mạnh mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào S’tiêng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Câu lạc bộ hoạt động trên tinh thần tự nguyện, tự quản, tự chịu trách nhiệm và chịu sự quản lý trực tiếp của UBND xã Tân Hưng. Đây được xem là lực lượng nòng cốt để địa phương triển khai các hoạt động bảo tồn văn hóa dân tộc bài bản, thường xuyên và hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Theo đó, Ban Chủ nhiệm cùng các thành viên sẽ tập trung duy trì đội hình biểu diễn múa cồng chiêng, khôi phục các món ăn truyền thống; đồng thời trực tiếp tập luyện, hướng dẫn và truyền dạy những điệu múa, lễ hội truyền thống của đồng bào S’tiêng cho thế hệ trẻ. Mô hình này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tại địa phương theo hướng bền vững, lâu dài.
Chia sẻ niềm vui khi câu lạc bộ chính thức được công nhận, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng Điểu Thị Hồng xúc động cho biết: “Tôi cảm thấy rất tự hào và vinh dự. Đây là câu lạc bộ đầu tiên của xã Tân Hưng, đồng thời cũng là cơ hội để thế hệ trẻ tiếp nối, phát huy và đưa văn hóa của đồng bào dân tộc S’tiêng đi xa hơn nữa. Tôi hi vọng những việc làm của câu lạc bộ sẽ truyền cảm hứng cho các thế hệ trong việc học hỏi, gìn giữ và lưu truyền những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình”.
Bí thư Đảng ủy xã Tân Hưng Mạc Đình Huấn trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Ảnh: TTXVN phát
Theo chị Điểu Thị Hồng, với vai trò là Chủ nhiệm Câu lạc bộ, chị luôn học hỏi, tìm tòi và kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống mà các thế hệ cha ông để lại. Từ đó từng bước tìm hướng phát triển phù hợp để đưa hoạt động của câu lạc bộ ngày càng phát triển; đồng thời lan tỏa niềm đam mê gìn giữ văn hóa dân tộc đến với thế hệ trẻ.
Thời gian tới, câu lạc bộ dự kiến tổ chức sinh hoạt định kỳ hằng tháng vào một ngày cố định. Các buổi sinh hoạt sẽ lồng ghép nhiều hoạt động như: biểu diễn cồng chiêng, múa truyền thống và giao lưu văn hóa nhằm tạo không khí sôi nổi, gắn kết cộng đồng và lan tỏa nét đẹp văn hóa đặc trưng của đồng bào S’tiêng. Hiện nay, thành viên nhỏ tuổi nhất của câu lạc bộ mới 7 tuổi và đang tham gia đội múa của câu lạc bộ.
Đóng góp tích cực trong quá trình chuẩn bị thành lập câu lạc bộ, ông Điểu Ho (già làng xã Tân Hưng) cho biết, thời gian qua, ông đã trực tiếp hướng dẫn, tập luyện cho các thành viên nhằm chuẩn bị chu đáo cho từng nội dung hoạt động. Từ các tiết mục múa, đánh cồng chiêng cho đến cách sử dụng trang phục truyền thống đều được truyền dạy cẩn thận, bài bản hơn nhằm giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc mình.
Quảng bá bản sắc văn hóa địa phương
Nghi thức chào mừng trong buổi lễ công bố công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Ảnh: TTXVN phát
Ông Mạc Đình Huấn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Tân Hưng cho biết, việc thành lập các câu lạc bộ văn hóa truyền thống nhằm góp phần giữ gìn, phát huy và bảo tồn các nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, trong đó có đồng bào dân tộc S’tiêng. Qua đó, địa phương từng bước xây dựng được lực lượng nòng cốt để tổ chức và duy trì các hoạt động văn hóa truyền thống tại cơ sở.
Theo ông Mạc Đình Huấn, thời gian tới, câu lạc bộ tiếp tục duy trì các đội hình biểu diễn cồng chiêng, phục dựng các hoạt động văn hóa truyền thống, tổ chức các hoạt động ẩm thực đặc trưng của đồng bào S’tiêng. Đồng thời, câu lạc bộ sẽ tham gia hướng dẫn, truyền dạy các điệu múa, tiếng cồng chiêng và lễ hội truyền thống nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, địa phương đẩy mạnh công tác truyền thông qua nhiều hình thức như tuyên truyền miệng tại khu dân cư; lồng ghép trong các buổi sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt hội đoàn thể; phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân… nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, ý nghĩa của việc giữ gìn văn hóa truyền thống.
Nghi thức chào mừng trong buổi lễ công bố công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Ảnh: TTXVN phát
Ngoài ra, xã Tân Hưng định hướng lồng ghép việc phục dựng các lễ hội truyền thống của đồng bào S’tiêng như lễ hội mừng lúa mới, các hoạt động văn hóa - ẩm thực dân tộc nhằm tạo thêm không gian giao lưu, sinh hoạt cộng đồng và quảng bá bản sắc văn hóa địa phương. “Từ khi sáp nhập, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và phục dựng lễ hội truyền thống đã thu hút đông đảo người dân tham gia. Đồng bào dân tộc S’tiêng hưởng ứng tích cực, trách nhiệm và phấn khởi. Bà con mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của địa phương và các cấp để công tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn”, ông Mạc Đình Huấn nhấn mạnh.
Để công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số đạt hiệu quả bền vững, xã Tân Hưng mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ thành phố Đồng Nai và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn về nguồn lực, cơ sở vật chất và các chương trình hỗ trợ bảo tồn văn hóa dân tộc.
Sau khi sáp nhập, xã Tân Hưng hiện có cộng đồng dân cư đa dạng với 10 dân tộc cùng sinh sống; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 30% dân số. Riêng đồng bào S’tiêng là cộng đồng bản địa lâu đời và chiếm tỷ lệ đông nhất trên địa bàn.
Việc thành lập Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng vì vậy không chỉ tạo nên một không gian sinh hoạt cộng đồng lành mạnh, giàu bản sắc mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương./.
Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.
Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.
Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.
Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.
Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.
Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).
Ở: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.
Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.
Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.
Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...
Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.
Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".
Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.
Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.
Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.
Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.
Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.
Theo cema.gov.vn