Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.
Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Bản sắc văn hóa kết tinh qua nhiều thế hệ
Thời gian qua, đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại nhiều xã, phường, lễ hội không chỉ dừng lại ở những nghi thức tâm linh hay những hoạt động vui chơi thuần túy, mà còn là niềm tự hào khi bản sắc văn hóa được kết tinh qua nhiều thế hệ.
Trong không khí rộn ràng của lễ hội Mừng lúa mới tại xã Tân Hưng dịp cuối tháng 12/2025, bà Thị Mương là người có uy tín tại xã Tân Hưng đã không giấu được sự xúc động khi chứng kiến nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình được khơi dậy mạnh mẽ trong nhiều năm qua.
Là người đã tham gia nhiều lễ hội, bà Mương từng chia sẻ: “Mong sao mỗi năm, không gian lễ hội lại được mở rộng hơn, không chỉ để bà con sum họp mà còn để du khách gần xa biết đến vẻ đẹp của người S’tiêng; mong Nhà nước tiếp tục hỗ trợ, mở thêm các lớp truyền dạy đánh cồng chiêng, dệt thổ cẩm ngay tại cộng đồng cho thế hệ trẻ. Khi những người trẻ biết yêu tiếng chiêng, biết quý điệu múa của cha ông, đó chính là lúc văn hóa dân tộc được hồi sinh bền vững nhất”.
Thời gian qua, các lễ hội được tổ chức phục dựng đã tạo nên một không gian giao thoa văn hóa độc đáo. Từ đó, ranh giới giữa các cộng đồng dân cư dường như xóa nhòa, chỉ còn lại tình đoàn kết và chia sẻ kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như sản xuất.
Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Già làng Điểu Ho ở xã Tân Hưng cho biết: "Với vai trò là già làng, già luôn vận động bà con giữ gìn và phát huy truyền thống lễ hội mà ông cha đã để lại. So với ngày xưa, đời sống của bà con giờ đây đã khấm khá hơn nhiều, không còn thiếu thốn nữa. Chúng tôi rất vui mừng khi lễ hội được duy trì và mong muốn truyền lại cho con cháu đời sau để nét văn hóa này ngày càng phát triển bền vững".
Trong lễ hội, điểm nhấn đáng mừng nhất là sự hồi sinh của các loại hình nghệ thuật trình diễn như cồng chiêng, múa và hát dân ca từ những thế hệ trẻ. Không gian lễ hội lành mạnh đã dần đẩy lùi các hủ tục, cùng sự hưởng ứng nhiệt tình của các nghệ nhân và đặc biệt là thế hệ trẻ. Những năm gần đây, tâm lý thế hệ trẻ đã thay đổi. Tại các sóc, ấp, người dân không còn mặc cảm mà tự tin diện trang phục thổ cẩm rực rỡ, nói tiếng mẹ đẻ trong các dịp lễ hội.
Phụ nữ dân tộc S'tiêng thuần thục động tác làm sạch gạo sau khi giã trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Chị Điểu Thị Hồng ở xã Tân Hưng thường xuyên tham gia các lễ hội và biểu diễn các tiết mục văn nghệ. Với những điệu múa được truyền dạy từ các thế hệ đi trước, chị sẽ ghi nhớ và truyền lại cho các thế hệ sau. Theo chị, việc các lễ hội được tổ chức thường xuyên sẽ là động lực để đồng bào S’tiêng gắn kết gìn giữ bản sắc của dân tộc mình.
Bà Thị Giôn cũng ở xã Tân Hưng được nhiều người biết “cây đại thụ” trong nghệ thuật dệt thổ cẩm. Bà thường mang đến các lễ hội gian hàng thổ cẩm nhiều màu sắc của mình. Bà Thị Giôn chia sẻ "Trước đây, người trẻ không mặn mà vì dệt rất kỳ công. Nhưng từ khi lễ hội được tổ chức thường xuyên, thấy khách du lịch khen ngợi, bà con nâng niu từng tấm áo, bà thấy mình phải có trách nhiệm hơn. Bà muốn truyền nghề lại cho các bạn trẻ để mai này dù xã hội phát triển đến đâu, sắc màu dân tộc mình vẫn không bị phai nhạt".
Bệ phóng cho tương lai
Phụ nữ S'tiêng giới thiệu vải thổ cẩm truyền thống cho thế hệ trẻ tại lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Cùng với việc lễ hội được phục dựng, sự đồng hành của chính quyền đã củng cố niềm tin cho bà con. Khi thấy Đảng và Nhà nước trân trọng văn hóa dân tộc mình, người dân lại càng thêm trách nhiệm hơn.
Theo ông Mạc Đình Huấn, Bí thư Đảng ủy xã Tân Hưng, lễ hội Mừng lúa mới tại địa phương được tổ chức hằng năm là hoạt động văn hóa có ý nghĩa sâu sắc nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc S’tiêng, biểu tượng cho thành quả lao động và tinh thần phấn khởi của bà con sau một năm mưa thuận gió hòa. Đây là nét đẹp truyền thống cần được bảo tồn và phát huy mạnh mẽ. Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã, địa phương xác định việc giữ gìn và phát huy bản sắc các dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm là động lực cốt lõi để phát triển con người và văn hóa.
Sự hòa quyện giữa “ý Đảng” và “lòng dân” đã khẳng định khi chính sách bắt nguồn từ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, sẽ tạo ra sức sống trường tồn. Những lễ hội giờ đây đã trở thành cầu nối niềm tin, khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với đồng bào dân tộc thiểu số. Ông Mạc Đình Huấn khẳng định: Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã, Tân Hưng xác định phát triển văn hóa là động lực then chốt cho sự phát triển con người. Những năm tới, xã định hướng nâng tầm các lễ hội truyền thống gắn liền với phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa và nông nghiệp, trở thành trung tâm nghiên cứu, trải nghiệm độc đáo.
Thổ cẩm của dân tộc S'tiêng được trưng bày trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Đồng Nai là vùng đất giàu truyền thống và là nơi hội tụ của 37 thành phần dân tộc cùng sinh sống, sở hữu một kho tàng bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú. Hằng năm, thành phố đã duy trì tổ chức nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số như: lễ hội Sayangva (người Chơ Ro), lễ hội Lồng Tồng (người Tày, Nùng), lễ hội cầu mưa (người S’tiêng), lễ hội Phá Bàu (dân tộc Khmer)... Những lễ hội được phục dựng thời gian qua đã và đang mang lại luồng gió mới cho công tác gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc.
Đặc biệt, đến nay Đồng Nai đã có 11 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bao gồm 5 di sản thuộc loại hình lễ hội. Điều này cho thấy giá trị đặc sắc cũng như sức sống bền bỉ của các lễ hội truyền thống trên địa bàn.
Theo ông Nguyễn Khắc Vĩnh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đồng Nai, để tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu trên, gắn với việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 30 của Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I (nay là thành phố Đồng Nai), Sở đã đề nghị các đơn vị trực thuộc cần tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, chủ động xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa theo hướng bền vững, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Song song đó, các đơn vị, địa phương cần định kỳ kiểm kê, lập danh mục và số hóa dữ liệu di sản, lựa chọn các di sản tiêu biểu để đề xuất ghi danh cấp cao hơn. Đặc biệt, các đơn vị cần tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời cho nghệ nhân, người có uy tín và cộng đồng thực hành di sản, chú trọng công tác đào tạo, truyền dạy để tạo nguồn nhân lực kế cận.
Không gian trưng bày các hiện vật sinh hoạt của dân tộc S'tiêng trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.
Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đồng Nai cũng đề nghị Ủy ban nhân dân các xã, phường chủ động xây dựng kế hoạch bảo tồn, phát huy di sản phù hợp với thực tiễn, gắn kết di sản với phát triển du lịch nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân. Các địa phương cần quan tâm bố trí nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng; tổ chức tốt các hoạt động lễ hội để vừa giữ gìn bản sắc truyền thống, vừa tránh xu hướng thương mại hóa làm biến dạng di sản. Địa phương hướng tới xây dựng thương hiệu du lịch lễ hội gắn với bảo vệ môi trường, đồng thời kiến tạo môi trường văn hóa số để quảng bá rộng rãi hình ảnh lễ hội Đồng Nai ra thế giới.
Việc duy trì, gìn giữ và khơi dậy sức sống của các lễ hội truyền thống là trách nhiệm bảo tồn văn hóa, giúp mở ra tầm nhìn chiến lược cho phát triển kinh tế bền vững. Đây chính là bệ phóng đưa di sản Đồng Nai hội nhập bản đồ du lịch toàn cầu, biến dòng chảy truyền thống thành động lực cho tương lai./.
Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.
Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.
Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.
Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.
Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.
Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).
Ở: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.
Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.
Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.
Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...
Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.
Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".
Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.
Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.
Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.
Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.
Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.
Theo cema.gov.vn