Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.

Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Bản sắc văn hóa kết tinh qua nhiều thế hệ

Thời gian qua, đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại nhiều xã, phường, lễ hội không chỉ dừng lại ở những nghi thức tâm linh hay những hoạt động vui chơi thuần túy, mà còn là niềm tự hào khi bản sắc văn hóa được kết tinh qua nhiều thế hệ.

Trong không khí rộn ràng của lễ hội Mừng lúa mới tại xã Tân Hưng dịp cuối tháng 12/2025, bà Thị Mương là người có uy tín tại xã Tân Hưng đã không giấu được sự xúc động khi chứng kiến nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình được khơi dậy mạnh mẽ trong nhiều năm qua.

Là người đã tham gia nhiều lễ hội, bà Mương từng chia sẻ: “Mong sao mỗi năm, không gian lễ hội lại được mở rộng hơn, không chỉ để bà con sum họp mà còn để du khách gần xa biết đến vẻ đẹp của người S’tiêng; mong Nhà nước tiếp tục hỗ trợ, mở thêm các lớp truyền dạy đánh cồng chiêng, dệt thổ cẩm ngay tại cộng đồng cho thế hệ trẻ. Khi những người trẻ biết yêu tiếng chiêng, biết quý điệu múa của cha ông, đó chính là lúc văn hóa dân tộc được hồi sinh bền vững nhất”.

Thời gian qua, các lễ hội được tổ chức phục dựng đã tạo nên một không gian giao thoa văn hóa độc đáo. Từ đó, ranh giới giữa các cộng đồng dân cư dường như xóa nhòa, chỉ còn lại tình đoàn kết và chia sẻ kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như sản xuất.

Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Cộng đồng dân tộc S'tiêng tham gia cuộc thi giã gạo trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Già làng Điểu Ho ở xã Tân Hưng cho biết: "Với vai trò là già làng, già luôn vận động bà con giữ gìn và phát huy truyền thống lễ hội mà ông cha đã để lại. So với ngày xưa, đời sống của bà con giờ đây đã khấm khá hơn nhiều, không còn thiếu thốn nữa. Chúng tôi rất vui mừng khi lễ hội được duy trì và mong muốn truyền lại cho con cháu đời sau để nét văn hóa này ngày càng phát triển bền vững".

Trong lễ hội, điểm nhấn đáng mừng nhất là sự hồi sinh của các loại hình nghệ thuật trình diễn như cồng chiêng, múa và hát dân ca từ những thế hệ trẻ. Không gian lễ hội lành mạnh đã dần đẩy lùi các hủ tục, cùng sự hưởng ứng nhiệt tình của các nghệ nhân và đặc biệt là thế hệ trẻ. Những năm gần đây, tâm lý thế hệ trẻ đã thay đổi. Tại các sóc, ấp, người dân không còn mặc cảm mà tự tin diện trang phục thổ cẩm rực rỡ, nói tiếng mẹ đẻ trong các dịp lễ hội.

Phụ nữ dân tộc S'tiêng thuần thục động tác làm sạch gạo sau khi giã trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Phụ nữ dân tộc S'tiêng thuần thục động tác làm sạch gạo sau khi giã trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Chị Điểu Thị Hồng ở xã Tân Hưng thường xuyên tham gia các lễ hội và biểu diễn các tiết mục văn nghệ. Với những điệu múa được truyền dạy từ các thế hệ đi trước, chị sẽ ghi nhớ và truyền lại cho các thế hệ sau. Theo chị, việc các lễ hội được tổ chức thường xuyên sẽ là động lực để đồng bào S’tiêng gắn kết gìn giữ bản sắc của dân tộc mình.

Bà Thị Giôn cũng ở xã Tân Hưng được nhiều người biết “cây đại thụ” trong nghệ thuật dệt thổ cẩm. Bà thường mang đến các lễ hội gian hàng thổ cẩm nhiều màu sắc của mình. Bà Thị Giôn chia sẻ "Trước đây, người trẻ không mặn mà vì dệt rất kỳ công. Nhưng từ khi lễ hội được tổ chức thường xuyên, thấy khách du lịch khen ngợi, bà con nâng niu từng tấm áo, bà thấy mình phải có trách nhiệm hơn. Bà muốn truyền nghề lại cho các bạn trẻ để mai này dù xã hội phát triển đến đâu, sắc màu dân tộc mình vẫn không bị phai nhạt".

Bệ phóng cho tương lai

Phụ nữ S'tiêng giới thiệu vải thổ cẩm truyền thống cho thế hệ trẻ tại lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Phụ nữ S'tiêng giới thiệu vải thổ cẩm truyền thống cho thế hệ trẻ tại lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Cùng với việc lễ hội được phục dựng, sự đồng hành của chính quyền đã củng cố niềm tin cho bà con. Khi thấy Đảng và Nhà nước trân trọng văn hóa dân tộc mình, người dân lại càng thêm trách nhiệm hơn.

Theo ông Mạc Đình Huấn, Bí thư Đảng ủy xã Tân Hưng, lễ hội Mừng lúa mới tại địa phương được tổ chức hằng năm là hoạt động văn hóa có ý nghĩa sâu sắc nhằm gìn giữ bản sắc dân tộc S’tiêng, biểu tượng cho thành quả lao động và tinh thần phấn khởi của bà con sau một năm mưa thuận gió hòa. Đây là nét đẹp truyền thống cần được bảo tồn và phát huy mạnh mẽ. Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã, địa phương xác định việc giữ gìn và phát huy bản sắc các dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm là động lực cốt lõi để phát triển con người và văn hóa.

Sự hòa quyện giữa “ý Đảng” và “lòng dân” đã khẳng định khi chính sách bắt nguồn từ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, sẽ tạo ra sức sống trường tồn. Những lễ hội giờ đây đã trở thành cầu nối niềm tin, khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với đồng bào dân tộc thiểu số. Ông Mạc Đình Huấn khẳng định: Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã, Tân Hưng xác định phát triển văn hóa là động lực then chốt cho sự phát triển con người. Những năm tới, xã định hướng nâng tầm các lễ hội truyền thống gắn liền với phát triển du lịch trải nghiệm văn hóa và nông nghiệp, trở thành trung tâm nghiên cứu, trải nghiệm độc đáo.

Thổ cẩm của dân tộc S'tiêng được trưng bày trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Thổ cẩm của dân tộc S'tiêng được trưng bày trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Đồng Nai là vùng đất giàu truyền thống và là nơi hội tụ của 37 thành phần dân tộc cùng sinh sống, sở hữu một kho tàng bản sắc văn hóa đa dạng, phong phú. Hằng năm, thành phố đã duy trì tổ chức nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số như: lễ hội Sayangva (người Chơ Ro), lễ hội Lồng Tồng (người Tày, Nùng), lễ hội cầu mưa (người S’tiêng), lễ hội Phá Bàu (dân tộc Khmer)... Những lễ hội được phục dựng thời gian qua đã và đang mang lại luồng gió mới cho công tác gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc.

Đặc biệt, đến nay Đồng Nai đã có 11 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, bao gồm 5 di sản thuộc loại hình lễ hội. Điều này cho thấy giá trị đặc sắc cũng như sức sống bền bỉ của các lễ hội truyền thống trên địa bàn.

Theo ông Nguyễn Khắc Vĩnh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đồng Nai, để tiếp tục cụ thể hóa các mục tiêu trên, gắn với việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 30 của Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I (nay là thành phố Đồng Nai), Sở đã đề nghị các đơn vị trực thuộc cần tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, chủ động xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa theo hướng bền vững, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội. Song song đó, các đơn vị, địa phương cần định kỳ kiểm kê, lập danh mục và số hóa dữ liệu di sản, lựa chọn các di sản tiêu biểu để đề xuất ghi danh cấp cao hơn. Đặc biệt, các đơn vị cần tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời cho nghệ nhân, người có uy tín và cộng đồng thực hành di sản, chú trọng công tác đào tạo, truyền dạy để tạo nguồn nhân lực kế cận.

Không gian trưng bày các hiện vật sinh hoạt của dân tộc S'tiêng trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Không gian trưng bày các hiện vật sinh hoạt của dân tộc S'tiêng trong lễ hội mừng lúa mới tại xã Tân Hưng.

Ngoài ra, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đồng Nai cũng đề nghị Ủy ban nhân dân các xã, phường chủ động xây dựng kế hoạch bảo tồn, phát huy di sản phù hợp với thực tiễn, gắn kết di sản với phát triển du lịch nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân. Các địa phương cần quan tâm bố trí nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng; tổ chức tốt các hoạt động lễ hội để vừa giữ gìn bản sắc truyền thống, vừa tránh xu hướng thương mại hóa làm biến dạng di sản. Địa phương hướng tới xây dựng thương hiệu du lịch lễ hội gắn với bảo vệ môi trường, đồng thời kiến tạo môi trường văn hóa số để quảng bá rộng rãi hình ảnh lễ hội Đồng Nai ra thế giới.

Việc duy trì, gìn giữ và khơi dậy sức sống của các lễ hội truyền thống là trách nhiệm bảo tồn văn hóa, giúp mở ra tầm nhìn chiến lược cho phát triển kinh tế bền vững. Đây chính là bệ phóng đưa di sản Đồng Nai hội nhập bản đồ du lịch toàn cầu, biến dòng chảy truyền thống thành động lực cho tương lai./.

Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Hơn sáu thập kỷ sau ngày hoàn thành, đường Hạnh Phúc đã trở thành biểu tượng của ý chí, tinh thần cống hiến và khát vọng dựng xây của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ một tuyến giao thông mở lối cho vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, con đường hôm nay là di sản lịch sử của nơi địa đầu Tổ quốc. Hiếm có công trình giao thông nào mà trên từng mét đường đều in đậm dấu chân, mồ hôi và cả máu của hàng nghìn thanh niên xung phong như đường Hạnh Phúc.

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Những nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội và phong tục truyền thống đặc sắc của đồng bào Chăm được tái hiện sinh động tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI. Sự kiện góp phần tôn vinh, lan tỏa và gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng Chăm.

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Sáng 27/6, tại Đầm Vực, thôn Nam Viên (xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), UBND xã Nghi Xuân tổ chức Lễ hội đánh cá Vực - Rào năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa truyền thống được địa phương duy trì nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân gian gắn với đời sống cộng đồng. Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách tham gia trải nghiệm.

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tối 26/6, tại Khánh Hòa, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng tỉnh Khánh Hòa tổ chức đã chính thức diễn ra. Ngày hội quy tụ hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên quần chúng và đông đảo đồng bào Chăm đến từ 7 tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia.

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Hướng tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026, ngành Văn hóa tỉnh Khánh Hòa đã chủ động triển khai tích hợp mã QR cùng nền tảng trải nghiệm số tại Khu di tích Tháp Bà Pô Nagar.

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Với bề dày hàng trăm năm, văn hóa của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy giá trị. Nhiều di sản vật thể, phi vật thể được khai thác, phát triển thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, đưa hình ảnh văn hóa Chăm nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung vươn xa trên bản đồ du lịch.

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Thư tịch cổ của người Chăm ở Khánh Hòa là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thư tịch không chỉ lưu giữ những tri thức về lịch sử,mà còn phản ánh quá trình sáng tạo, tiếp biến văn hóa tri thức độc đáo của đồng bào Chăm. Tuy nhiên, Thư tịch cổ cũng đang dần bị bào mòn theo thời gian.

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 24/6, Lễ công bố Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử sóc Bom Bo và Quyết định đưa Tập quán giã gạo chày tay của người S’tiêng, người M’nông vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được tổ chức tại Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng sóc Bom Bo (xã Bom Bo).

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Là những địa phương sở hữu kho tàng văn hóa Chăm độc đáo và phong phú, những năm qua Khánh Hòa và Lâm Đồng đã có nhiều giải pháp để thu hút các nguồn lực đầu tư, tạo giá trị gia tăng từ kho tàng văn hóa.

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Sau hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ hiện trở thành địa phương có không gian văn hóa rộng lớn, hội tụ nhiều giá trị đặc sắc của vùng đất cội nguồn dân tộc, văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa miền núi Tây Bắc. 

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Văn hóa Chăm là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa đa dạng của Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, hệ thống di sản văn hóa Chăm vẫn lưu giữ những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Đồng bào dân tộc Dao ở xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao, nhất là việc gìn giữ tiếng nói, trang phục, nghề thêu, dân ca và các nghi lễ truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng... Đây cũng là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.