Đồng bào vùng cao thoát nghèo nhờ cây gừng

Từ những luống gừng xanh tốt trên cao nguyên đá nơi địa đầu Tổ quốc, đồng bào Mông và Giáy ở Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) đã mạnh dạn thay thế cây ngô kém hiệu quả, biến cây trồng quanh nhà thành cây kinh tế mũi nhọn, mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Cây gừng bản địa không chỉ mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng cao mà còn từng bước xây dựng thương hiệu, hướng tới sản xuất bền vững, gia tăng giá trị.

cay-gung-21082025-01.jpg
Cán bộ xã Lũng Cú (Tuyên Quang) hướng dẫn người dân kiểm tra chất lượng cũng như độ phát triển của cây gừng.

Xã Lũng Cú, nơi cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc, hiện có 12 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, đồng bào Mông chiếm tới 92,7% dân số. Đây cũng là địa phương mà đồng bào các dân tộc Mông và Giáy tiên phong đưa cây gừng bản địa từ vườn nhà ra nương rẫy, trở thành “cây làm giàu” trên vùng đất đá sỏi khắc nghiệt.

Thôn Ma Xí B, xã Lũng Cú có 93 hộ với hơn 500 nhân khẩu, nay đã trở thành nơi trồng gừng lớn nhất xã, nhờ sự mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ ngô sang gừng bản địa.

Ông Ma Doãn Khánh, Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cú (Tuyên Quang) cho biết, trước đây, cây ngô gần như là cây trồng duy nhất trên đất Ma Xí B. Song điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất dốc bạc màu, giá cả bấp bênh khiến bà con quanh năm không đủ ăn. Những năm gần đây, người dân mạnh dạn chuyển đổi sang trồng gừng bản địa cho hiệu quả kinh tế và năng suất cao.

Với đặc thù núi đá vôi, xen lẫn lớp đất mỏng bạc màu, gừng sinh trưởng xanh tốt, ít sâu bệnh và cho năng suất ổn định. Khí hậu mát mẻ quanh năm của cao nguyên đá Đồng Văn, với biên độ nhiệt ngày và đêm rõ rệt cũng giúp củ gừng chắc, thơm và giữ được hương vị đặc trưng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Năm 2024, nhiều hộ ở Ma Xí B thu về hàng trăm triệu đồng từ gừng, cuộc sống đổi thay rõ rệt. Hiện nay, hơn 70% số hộ trong thôn trồng gừng với diện tích khoảng 15 ha. Nhờ nguồn thu nhập này, nhiều gia đình đã thoát nghèo, có điều kiện mua sắm vật dụng sinh hoạt, cho con em học hành đầy đủ.

Chị Ly Thị Lía, người dân tộc Mông ở Ma Xí B (Lũng Cú) chia sẻ: “Trước kia gia đình chỉ trồng gừng để dùng trong nhà, nhưng 2 - 3 năm trở lại đây thấy thương lái thu mua nhiều, chúng tôi mở rộng diện tích. Vụ năm ngoái, gia đình tôi thu được vài chục triệu đồng, số tiền mà trồng ngô nhiều năm cũng không có. Hiện nay, chúng tôi đang hi vọng đến những ruộng gừng của mình. Hy vọng năm nay được mùa, được giá”.

Theo ông Ly Mí Pó, Trưởng thôn Ma Xí B, gừng cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với ngô và ít tốn công chăm sóc. “Nhận thấy hiệu quả, bà con đồng loạt mở rộng diện tích, gừng trở thành cây mũi nhọn phát triển kinh tế của thôn,” ông Pó cho biết.

Diện tích trồng gừng ở Lũng Cú (Tuyên Quang).

Diện tích trồng gừng ở Lũng Cú (Tuyên Quang).

Ông Ma Doãn Khánh nhấn mạnh: “Không chỉ ở Ma Xí B, diện tích gừng bản địa đang ngày càng mở rộng tại 15 thôn khác của xã với hơn 150 ha, tập trung nhiều nhất tại các thôn Ma Xí A, Ma Xí B, Khai Hoang, Ngài Trồ, Ma Lé, Tả Giao Khâu, Sáy Sà Phìn, Cẳng Tằng… Năng suất bình quân đạt 35 - 40 tấn/ha. Với giá bán 10.000 - 12.000 đồng/kg, mỗi hộ có thể thu hàng trăm triệu đồng/vụ, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo ở vùng cao biên giới".

Dù gừng bản địa đã chứng minh được tiềm năng, nhưng thách thức lớn hiện nay là đầu ra còn phụ thuộc vào thương lái, giá cả biến động, chưa có hợp đồng bao tiêu. Thực tế, khi nhu cầu thị trường giảm, giá gừng xuống thấp khiến bà con lo lắng “được mùa, mất giá”. Đây là trở ngại trên con đường đưa gừng trở thành sản phẩm hàng hóa ổn định, lâu dài.

Để giải quyết khó khăn, cấp ủy, chính quyền xã Lũng Cú đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn triển khai xây dựng thương hiệu “Gừng bản địa Lũng Cú”, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, gắn bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc. Xã cũng đang kêu gọi doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, khuyến khích hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã trồng gừng để liên kết sản xuất - tiêu thụ.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Theo ông Ma Doãn Khánh, địa phương đặt mục tiêu thu hút nhà đầu tư xây dựng cơ sở chế biến tinh dầu, bột gừng ngay tại địa bàn. Nếu giải quyết được đầu ra ổn định, gừng sẽ là cây mũi nhọn, giúp bà con vươn lên thoát nghèo bền vững.

Cùng với đó, việc mở các lớp tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc gừng cho người dân cũng được chú trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên các phương tiện truyền thông được đẩy mạnh để gừng Lũng Cú dần khẳng định thương hiệu và tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Giữa vùng núi đá nơi địa đầu Tổ quốc, với sự đồng hành của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, gừng Lũng Cú dần trở thành nông sản đặc trưng, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững nơi cực Bắc Tổ quốc./.

Dân tộc Giáy

Tên tự gọi: Giáy

Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng

Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai.

Lịch sử: Người Giáy từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậc thang. Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Chăn nuôi theo lối thả rông. Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển.

Ăn: Ăn cơm tẻ. Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nước luộc gạo dùng làm đồ uống. Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán.

Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Mông. Ngày nay họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.

: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu). Nhà sàn là nhà ở truyền thống. Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lào Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi. Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa.

Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng, có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè. Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.

Cưới xin: Gồm nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt. Trong lễ ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu". Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần; mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng. ở người Giáy cũng có tục kéo vợ như người Mông.

Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc (sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía). Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ. Trẻ đầy tháng cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ để sau này đem so tuổi khi lấy vợ, lấy chồng và chọn giờ nhập quan, hạ huyệt khi chết đi.

Ma chay: Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật. Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo... Con cái để tang bố mẹ một năm. Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm.

Thờ cúng: Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương theo thứ tự từ trái sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên. Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái. Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải. Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ. Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa.

Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ....

Lịch: Người Giáy theo âm lịch.

Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán.

Văn nghệ: Trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Giáy
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer

Gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer

Trong khuôn viên nhiều ngôi chùa Khmer trên địa bàn thành phố Cần Thơ vào mùa hè lại rộn ràng tiếng các em nhỏ đánh vần, học chữ. Không áp lực điểm số hay thời gian, những lớp học hè miễn phí dưới mái chùa hun đúc tình yêu của trẻ thơ đối với tiếng mẹ đẻ, truyền dạy các nét đẹp văn hóa tốt đẹp của dân tộc, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Công an Quảng Ngãi đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật trên không gian mạng

Công an Quảng Ngãi đổi mới hình thức tuyên truyền pháp luật trên không gian mạng

Tăng cường truyền thông số hiện nay được xác định là xu thế tất yếu nhằm bảo đảm an ninh, trật tự ngay từ cơ sở. Tận dụng sức mạnh của các nền tảng mạng xã hội, lực lượng công an các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã sáng tạo sản xuất hàng loạt video ngắn, phim ngắn tuyên truyền với nội dung phong phú, thiết thực và cuốn hút.

Rộn ràng mùa thu hoạch na Bồ Lý

Rộn ràng mùa thu hoạch na Bồ Lý

Bước vào tháng 8, những triền đồi ở xã Đại Đình (Phú Thọ) rộn ràng mùa thu hoạch na Bồ Lý. Những quả na căng tròn, thơm ngọt được người dân thu hái từ sáng sớm để kịp đưa đến tay người tiêu dùng.

Bình dân học vụ số: Từ phong trào đến nền tảng xây dựng công dân số

Bình dân học vụ số: Từ phong trào đến nền tảng xây dựng công dân số

Từ những lớp học "cầm tay chỉ việc" ở vùng nông thôn, các Tổ công nghệ số cộng đồng "đi từng ngõ, gõ từng nhà", đến mô hình "Gia đình số", "Chợ số - Nông thôn số", "Mỗi công dân - Một danh tính số"... phong trào "Bình dân học vụ số" đang lan tỏa mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Liên kết trồng ớt chỉ địa, mở hướng phát triển kinh tế vùng cao

Liên kết trồng ớt chỉ địa, mở hướng phát triển kinh tế vùng cao

Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng cùng chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xã Quản Bạ (Tuyên Quang) đang phát triển mô hình liên kết trồng ớt chỉ địa giữa người dân, doanh nghiệp và chính quyền. Mô hình không chỉ giúp hình thành vùng nguyên liệu tập trung mà còn mang lại doanh thu từ 160-200 triệu đồng/ha, cao gấp 3-4 lần so với trồng ngô, góp phần nâng cao thu nhập và tạo động lực phát triển kinh tế vùng cao.

Đồng bào vùng cao tăng thu nhập từ tư duy đổi mới

Đồng bào vùng cao tăng thu nhập từ tư duy đổi mới

Nằm ở vùng biên giới phía Bắc của thành phố Đồng Nai, xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập từng được biết đến là vùng đất gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Những năm gần đây, diện mạo các thôn nơi đây đang thay đổi từng ngày nhờ sự đóng góp không nhỏ từ ý chí kiên cường và tinh thần vượt khó của đồng bào Tày, Nùng là những người mang khát vọng vươn lên làm giàu trên quê hương thứ hai miền Đông Nam Bộ.

Triển vọng từ mô hình trồng sâm bố chính

Triển vọng từ mô hình trồng sâm bố chính

Nhờ sự mạnh dạn và nhạy bén của người nông dân, cây sâm bố chính (hay còn gọi là sâm tiến vua) – một loại dược liệu quý vốn nổi tiếng là khó canh tác đã bước đầu bén duyên thành công trên đất Quảng Ngãi.

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Tại xã Dũng Tiến (Phú Thọ), công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đang được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng và kết hợp hiệu quả với các nền tảng số để đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Tại tỉnh Điện Biên, tình trạng tảo hôn vẫn xảy ra ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số do điều kiện kinh tế, trình độ dân trí và tập quán lạc hậu. Để từng bước đẩy lùi tình trạng này, các địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân.

Trang bị kỹ năng phòng chống thiên tai cho vùng sạt lở Lai Châu

Trang bị kỹ năng phòng chống thiên tai cho vùng sạt lở Lai Châu

Ngày 3/7, tại Lai Châu, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Công ty CP Acecook Việt Nam tổ chức lớp tập huấn “Nâng cao năng lực, phát huy vai trò về phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro thiên tai của đội ngũ trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân cư”.

Lớp học chuyển đổi số đặc biệt nơi biên cương

Lớp học chuyển đổi số đặc biệt nơi biên cương

Mang nhịp sống công nghệ đến gần hơn với trẻ em vùng khó khăn, đó là câu chuyện đang diễn ra tại lớp học "chuyển đổi số" đặc biệt của Đồn Biên phòng Vĩnh Hải, thành phố Cần Thơ trong mùa hè này. Những học viên nhỏ tuổi đến đây đa phần đều có hoàn cảnh khó khăn.

Thận trọng phát triển cây mắc ca ở Lào Cai

Thận trọng phát triển cây mắc ca ở Lào Cai

Sau nhiều năm thử nghiệm, cây mắc ca thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng ở một số địa phương tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, bài toán về đầu ra và công nghiệp chế biến chưa ổn định đòi hỏi việc phát triển loại cây này cần những bước đi thận trọng, tránh chạy theo phong trào.

Mô hình hình sen cá mở hướng sinh kế bền vững vùng ngập lũ

Mô hình hình sen cá mở hướng sinh kế bền vững vùng ngập lũ

Tận dụng lợi thế đất ngập nước theo mùa, mô hình trồng sen kết hợp nuôi cá tại xã Tân Hưng, tỉnh Tây Ninh, đang mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mô hình này đang thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và nông dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Chuyển đổi trồng dừa hữu cơ phục vụ xuất khẩu

Chuyển đổi trồng dừa hữu cơ phục vụ xuất khẩu

Tỉnh Đồng Tháp là một trong những địa phương có diện tích dừa lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, với hơn 24.113 ha dừa, tập trung tại xã chuyên canh dừa trong vùng ngọt hóa Gò Công ở các địa phương phía Đông của tỉnh, với sản lượng khoảng 203.770 tấn trái/năm. Nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh cây dừa, các địa phương trong vùng chuyên canh dừa khuyến khích người dân ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật nông nghiệp thâm canh, chuyển đổi sang trồng dừa hữu cơ hướng tới phục vụ xuất khẩu.

Phát triển chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở vùng lõi Măng Ri

Phát triển chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở vùng lõi Măng Ri

Xã vùng cao Măng Ri là vùng lõi sinh trưởng tự nhiên của sâm Ngọc Linh tại tỉnh Quảng Ngãi. Từ các nghị quyết phát triển dược liệu của địa phương, mô hình liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân đang từng bước hình thành chuỗi giá trị khép kín cho loại dược liệu quý này.

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Tháng 4/2026, HĐND tỉnh Lai Châu đã ban hành quy định chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc nội trú, học sinh bán trú, học viên bán trú năm cuối cấp trung học phổ thông và cơ sở giáo dục để ôn thi, thi tốt nghiệp. Đây là một quyết sách đậm tính nhân văn, thể hiện sự quan tâm thiết thực của cấp ủy, chính quyền tỉnh Lai Châu đối với thế hệ trẻ vùng cao trong thời điểm quan trọng nhất của học sinh.

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều mô hình sản xuất hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững cho địa phương.

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Tháng Năm về trên vùng biên giới Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh, những cơn mưa đầu mùa bắt đầu làm dịu đi cái nắng gay gắt của miền Đông Nam Bộ. Trong khuôn viên trụ sở xã, “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” vừa được ra mắt trở thành nơi nhiều cán bộ, đảng viên, đoàn viên, học sinh tìm đến đọc sách, xem hình ảnh tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không gian ấy không chỉ là mô hình trưng bày mà đang dần trở thành nơi hun đúc niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng biên.

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Ngày 16/5, tại phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Y tế khu vực Hòa Bình phối hợp với Bệnh viện Tâm thần Vĩnh Phúc và Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú Hòa Bình tổ chức hội nghị truyền thông và sàng lọc sức khỏe tâm lý cho hơn 560 học sinh của nhà trường.

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng cao, tỉnh Phú Thọ đang xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng kỹ thuật tiên tiến đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần thay đổi tư duy sản xuất và nâng cao giá trị nông sản địa phương.

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Trong dòng chảy phát triển hôm nay, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ đang được nhìn nhận không chỉ như một nguồn gen quý hiếm, mà còn là "di sản sống" cần được bảo tồn, phát huy gắn với nâng cao đời sống người dân. Và để đánh thức trọn vẹn giá trị ấy, khoa học đang được đặt vào vị trí đồng hành cùng cộng đồng địa phương.

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Cây dâu tây đang dần trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Tại xã biên giới Dào San, mô hình trồng dâu tây đang mở ra hướng phát triển mới, giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Từng là địa bàn có tỷ lệ tảo hôn khá cao, xã Pu Sam Cáp (Lai Châu) đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc ngăn chặn hủ tục này. Sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, nhà trường và cộng đồng đã từng bước thay đổi nhận thức, giúp nhiều em nhỏ có cơ hội tiếp tục học tập, hướng tới tương lai bền vững.

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.