Đồng bào vùng cao thoát nghèo nhờ cây gừng

Từ những luống gừng xanh tốt trên cao nguyên đá nơi địa đầu Tổ quốc, đồng bào Mông và Giáy ở Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) đã mạnh dạn thay thế cây ngô kém hiệu quả, biến cây trồng quanh nhà thành cây kinh tế mũi nhọn, mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm. Cây gừng bản địa không chỉ mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho đồng bào vùng cao mà còn từng bước xây dựng thương hiệu, hướng tới sản xuất bền vững, gia tăng giá trị.

cay-gung-21082025-01.jpg
Cán bộ xã Lũng Cú (Tuyên Quang) hướng dẫn người dân kiểm tra chất lượng cũng như độ phát triển của cây gừng.

Xã Lũng Cú, nơi cực Bắc thiêng liêng của Tổ quốc, hiện có 12 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, đồng bào Mông chiếm tới 92,7% dân số. Đây cũng là địa phương mà đồng bào các dân tộc Mông và Giáy tiên phong đưa cây gừng bản địa từ vườn nhà ra nương rẫy, trở thành “cây làm giàu” trên vùng đất đá sỏi khắc nghiệt.

Thôn Ma Xí B, xã Lũng Cú có 93 hộ với hơn 500 nhân khẩu, nay đã trở thành nơi trồng gừng lớn nhất xã, nhờ sự mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ ngô sang gừng bản địa.

Ông Ma Doãn Khánh, Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cú (Tuyên Quang) cho biết, trước đây, cây ngô gần như là cây trồng duy nhất trên đất Ma Xí B. Song điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất dốc bạc màu, giá cả bấp bênh khiến bà con quanh năm không đủ ăn. Những năm gần đây, người dân mạnh dạn chuyển đổi sang trồng gừng bản địa cho hiệu quả kinh tế và năng suất cao.

Với đặc thù núi đá vôi, xen lẫn lớp đất mỏng bạc màu, gừng sinh trưởng xanh tốt, ít sâu bệnh và cho năng suất ổn định. Khí hậu mát mẻ quanh năm của cao nguyên đá Đồng Văn, với biên độ nhiệt ngày và đêm rõ rệt cũng giúp củ gừng chắc, thơm và giữ được hương vị đặc trưng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Năm 2024, nhiều hộ ở Ma Xí B thu về hàng trăm triệu đồng từ gừng, cuộc sống đổi thay rõ rệt. Hiện nay, hơn 70% số hộ trong thôn trồng gừng với diện tích khoảng 15 ha. Nhờ nguồn thu nhập này, nhiều gia đình đã thoát nghèo, có điều kiện mua sắm vật dụng sinh hoạt, cho con em học hành đầy đủ.

Chị Ly Thị Lía, người dân tộc Mông ở Ma Xí B (Lũng Cú) chia sẻ: “Trước kia gia đình chỉ trồng gừng để dùng trong nhà, nhưng 2 - 3 năm trở lại đây thấy thương lái thu mua nhiều, chúng tôi mở rộng diện tích. Vụ năm ngoái, gia đình tôi thu được vài chục triệu đồng, số tiền mà trồng ngô nhiều năm cũng không có. Hiện nay, chúng tôi đang hi vọng đến những ruộng gừng của mình. Hy vọng năm nay được mùa, được giá”.

Theo ông Ly Mí Pó, Trưởng thôn Ma Xí B, gừng cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với ngô và ít tốn công chăm sóc. “Nhận thấy hiệu quả, bà con đồng loạt mở rộng diện tích, gừng trở thành cây mũi nhọn phát triển kinh tế của thôn,” ông Pó cho biết.

Diện tích trồng gừng ở Lũng Cú (Tuyên Quang).

Diện tích trồng gừng ở Lũng Cú (Tuyên Quang).

Ông Ma Doãn Khánh nhấn mạnh: “Không chỉ ở Ma Xí B, diện tích gừng bản địa đang ngày càng mở rộng tại 15 thôn khác của xã với hơn 150 ha, tập trung nhiều nhất tại các thôn Ma Xí A, Ma Xí B, Khai Hoang, Ngài Trồ, Ma Lé, Tả Giao Khâu, Sáy Sà Phìn, Cẳng Tằng… Năng suất bình quân đạt 35 - 40 tấn/ha. Với giá bán 10.000 - 12.000 đồng/kg, mỗi hộ có thể thu hàng trăm triệu đồng/vụ, góp phần quan trọng vào công cuộc giảm nghèo ở vùng cao biên giới".

Dù gừng bản địa đã chứng minh được tiềm năng, nhưng thách thức lớn hiện nay là đầu ra còn phụ thuộc vào thương lái, giá cả biến động, chưa có hợp đồng bao tiêu. Thực tế, khi nhu cầu thị trường giảm, giá gừng xuống thấp khiến bà con lo lắng “được mùa, mất giá”. Đây là trở ngại trên con đường đưa gừng trở thành sản phẩm hàng hóa ổn định, lâu dài.

Để giải quyết khó khăn, cấp ủy, chính quyền xã Lũng Cú đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn triển khai xây dựng thương hiệu “Gừng bản địa Lũng Cú”, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, gắn bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc. Xã cũng đang kêu gọi doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, khuyến khích hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã trồng gừng để liên kết sản xuất - tiêu thụ.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Đồng bào dân tộc Mông ở Lũng Cú (Tuyên Quang) chăm sóc vùng trồng gừng.

Theo ông Ma Doãn Khánh, địa phương đặt mục tiêu thu hút nhà đầu tư xây dựng cơ sở chế biến tinh dầu, bột gừng ngay tại địa bàn. Nếu giải quyết được đầu ra ổn định, gừng sẽ là cây mũi nhọn, giúp bà con vươn lên thoát nghèo bền vững.

Cùng với đó, việc mở các lớp tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc gừng cho người dân cũng được chú trọng nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên các phương tiện truyền thông được đẩy mạnh để gừng Lũng Cú dần khẳng định thương hiệu và tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Giữa vùng núi đá nơi địa đầu Tổ quốc, với sự đồng hành của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, gừng Lũng Cú dần trở thành nông sản đặc trưng, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo bền vững nơi cực Bắc Tổ quốc./.

Dân tộc Giáy

Tên tự gọi: Giáy

Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng

Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai.

Lịch sử: Người Giáy từ Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Giáy có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những triền ruộng bậc thang. Bên cạnh đó họ còn làm thêm nương rẫy trồng ngô, lúa, các loại cây có củ và rau xanh. Chăn nuôi theo lối thả rông. Có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển.

Ăn: Ăn cơm tẻ. Gạo được luộc cho chín dở rồi mới cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nước luộc gạo dùng làm đồ uống. Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán.

Mặc: Trước kia phụ nữ mặc váy xoè giống như váy của người Mông. Ngày nay họ mặc quần màu chàm đen có dải vải đỏ đắp trên phần cạp, áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải, hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc. Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. Nam giới mặc quần lá toạ, áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực.

: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào Cai), Yên Minh, Ðồng Văn (Hà Giang), Phong Thổ, Mường Tè (Lai Châu). Nhà sàn là nhà ở truyền thống. Hiện nay, kiểu nhà sàn vẫn phổ biến trong bộ phận người Giáy ở Hà Giang, còn bộ phận ở Lào Cai và Lai Châu ở nhà đất nhưng phía trước nhà vẫn là sàn phơi. Nhà thường có 3 gian, bàn thờ đặt ở gian giữa.

Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản, nhiều người được hưởng ruộng công do dân cày cấy, có rừng thảo quả do dân trồng, có lính phục dịch, có người lo việc tang, việc cưới, đôi khi có cả đội xoè. Nông dân, ngoài đóng thuế còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.

Cưới xin: Gồm nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt. Trong lễ ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu". Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần; mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng. ở người Giáy cũng có tục kéo vợ như người Mông.

Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc (sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía). Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ. Trẻ đầy tháng cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ để sau này đem so tuổi khi lấy vợ, lấy chồng và chọn giờ nhập quan, hạ huyệt khi chết đi.

Ma chay: Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật. Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thả đèn trôi sông, rước hồn đi dạo... Con cái để tang bố mẹ một năm. Lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm.

Thờ cúng: Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương theo thứ tự từ trái sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên. Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái. Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải. Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ. Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa.

Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ....

Lịch: Người Giáy theo âm lịch.

Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán.

Văn nghệ: Trong kho tàng văn nghệ của người Giáy có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao, phong dao... Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "vươn" hay "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Giáy
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Hàng trăm hộ dân Bạch Thông thoát nghèo nhờ thương hiệu 'Quýt Bắc Kạn'

Hàng trăm hộ dân Bạch Thông thoát nghèo nhờ thương hiệu 'Quýt Bắc Kạn'

Giữa tiết trời cuối năm, những đồi quýt trải dài ở xã Bạch Thông lại rực rỡ một màu vàng ươm của quýt chín. Với sản lượng hàng nghìn tấn mỗi năm và thương hiệu "Quýt Bắc Kạn" đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, cây quýt không chỉ là cây ăn quả truyền thống mà đã trở thành cây chủ lực, mang lại thu nhập ổn định và góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương.

Kịp thời hướng dẫn người dân vùng lũ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Kịp thời hướng dẫn người dân vùng lũ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Chiều 28/11, tại xã Hữu Lũng (Lạng Sơn), Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lạng Sơn tổ chức Tọa đàm hướng dẫn bà con các xã vừa chịu ảnh hưởng nặng bởi thiên tai, ngập lụt như: Yên Bình, Vân Nham, Hữu Lũng, Thiện Tân, Cai Kinh những biện pháp khôi phục sản xuất nông nghiệp sau mưa lũ.

Tiếp nhận thủ tục hành chính lưu động - 'điểm sáng' trong giải quyết hành chính công

Tiếp nhận thủ tục hành chính lưu động - 'điểm sáng' trong giải quyết hành chính công

Ya Ly là một xã nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi, được thành lập theo Nghị quyết số 1677/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hình thành từ việc sáp nhập các xã Ya Ly, Ya Tăng, Ya Xiêr của huyện Sa Thầy (cũ). Do địa bàn rộng, nhiều thôn, làng nằm xã trung tâm xã nên người dân gặp không ít khó khăn trong việc nộp các hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính. Vì vậy, để thuận tiện cho bà con các thôn ở xa, Ủy ban nhân dân xã Ya Ly đã triển khai thực hiện tiếp nhận hồ sơ lưu động trên địa bàn xã.

Sơn La phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi

Sơn La phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi

Thời gian qua, tỉnh Sơn La xuất hiện các đợt rét, khu vực vùng núi cao xảy ra rét đậm, rét hại kèm mưa. Trước tình hình đó, các địa phương trong tỉnh đã chủ động tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống đói, rét cho đàn vật nuôi nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại.

Truyền cảm hứng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho học sinh qua môn Lịch sử

Truyền cảm hứng, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho học sinh qua môn Lịch sử

Gần hai thập kỷ gắn bó với Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Dân tộc nội trú Hà Tĩnh, cô giáo Nguyễn Thị Cẩm Tú - giáo viên môn Lịch sử - luôn kiên trì bám trường, bám lớp, không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy. Sự tận tụy, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của cô đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trở thành tấm gương điển hình tiên tiến của nhà trường. Với những đóng góp bền bỉ ấy, cô vinh dự được Thủ tướng Chính phủ trao tặng Bằng khen.

'Hồi sinh' hồ tiêu Gia Lai nhờ canh tác thuận tự nhiên

'Hồi sinh' hồ tiêu Gia Lai nhờ canh tác thuận tự nhiên

Sau nhiều năm bị ảnh hưởng nặng bởi dịch bệnh “chết nhanh, chết chậm”, ngành hồ tiêu ở Gia Lai đang dần phục hồi nhờ sự chuyển đổi mạnh mẽ sang phương thức canh tác thuận tự nhiên, trong đó người trồng ưu tiên duy trì độ phì nhiêu của đất, sử dụng chế phẩm sinh học và giảm thiểu hóa chất. Cách làm này giúp cây tiêu tăng sức đề kháng, ổn định năng suất và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Trợ giúp pháp lý, nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trợ giúp pháp lý, nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam (9/11), ngày 7/11, tại xã Yên Bình, tỉnh Lào Cai, Trung tâm Tư vấn pháp luật cho người nghèo và Phát triển cộng đồng thuộc Hội Luật gia Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn và truyền thông nâng cao nhận thức về Luật hôn nhân và Gia đình cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai.

Đưa bản sắc văn hóa vào trường học thông qua môn Giáo dục địa phương

Đưa bản sắc văn hóa vào trường học thông qua môn Giáo dục địa phương

Thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, các trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang tăng cường triển khai môn Giáo dục địa phương, gắn nội dung dạy học với thực tiễn văn hóa, lịch sử, đời sống quê hương. Việc lồng ghép, phát huy bản sắc văn hóa trong nhà trường không chỉ làm phong phú hoạt động giáo dục mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc cho học sinh.

Xây dựng sinh kế bền vững từ nghề nuôi trâu bò vỗ béo

Xây dựng sinh kế bền vững từ nghề nuôi trâu bò vỗ béo

Sau khi hợp nhất ba xã Xuân La, An Thắng và Nghiên Loan, xã Nghiên Loan (tỉnh Thái Nguyên) được thành lập với tổng diện tích tự nhiên rộng lớn hơn 130km2 và dân số hơn 11.000 người. Việc hợp nhất này không chỉ mở ra không gian phát triển mới mà còn giúp Nghiên Loan phát huy mạnh mẽ tiềm năng trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc.

Người phụ nữ khởi xướng phát triển các loại dược liệu cho quê hương

Người phụ nữ khởi xướng phát triển các loại dược liệu cho quê hương

Những năm trở lại đây, các sản phẩm dầu gió, tinh dầu bạc hà, tràm, quế, cao xoa thảo dược... của Hợp tác xã Nông ngư nghiệp Mỹ An do chị Nguyễn Thụy Thúy Vy (sinh năm 1992, xã Phù Mỹ Đông, tỉnh Gia Lai), khởi xướng sáng lập được người dân trong và ngoài xã coi như món quà biếu, tặng bạn bè, người thân.

Hành trình bền bỉ gieo chữ nơi biên giới Dào San

Hành trình bền bỉ gieo chữ nơi biên giới Dào San

Trong tiết trời se lạnh của vùng cao Dào San (tỉnh Lai Châu), tiếng đọc bài của học trò vang đều trong lớp học nhỏ. Cô Trần Thị Thao, giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Dào San nhẹ nhàng chỉnh lại chiếc máy tính giúp học trò vùng biên biết đến Tin học.

Kinh tế tập thể tạo trụ đỡ cho nông nghiệp xanh

Kinh tế tập thể tạo trụ đỡ cho nông nghiệp xanh

Với hơn 500 hợp tác xã và hàng nghìn tổ hợp tác đang hoạt động, khu vực kinh tế tập thể ở Vĩnh Long đang chuyển mình mạnh mẽ, trở thành điểm tựa vững chắc cho nông nghiệp bền vững. Từ những mô hình sản xuất hữu cơ, trồng xen đến liên kết “4 nhà”, kinh tế hợp tác không chỉ giúp nông dân nâng cao thu nhập mà còn tạo nền tảng cho nông nghiệp xanh - hiện đại, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

'Vương quốc' cây ăn trái Đồng Tháp tạo chỗ đứng vững chắc

'Vương quốc' cây ăn trái Đồng Tháp tạo chỗ đứng vững chắc

Sau khi hợp nhất địa giới, Đồng Tháp không chỉ mở rộng về quy mô diện tích, dân số mà còn gia tăng đáng kể lợi thế về phát triển nông nghiệp, nhất là hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản gắn với chế biến và tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu của thị trường xuất khẩu.

Triển khai truyền thông hướng dẫn khôi phục sản xuất sau mưa lũ

Triển khai truyền thông hướng dẫn khôi phục sản xuất sau mưa lũ

Ngày 10/10, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai tổ chức Chương trình triển khai hoạt động truyền thông, hướng dẫn khôi phục sản xuất sau mưa lũ tại tỉnh Lào Cai.

Mô hình nuôi dúi cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm

Mô hình nuôi dúi cho thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm

Mô hình chăn nuôi dúi của anh Đinh Tiến Hoàng, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ tổng hợp Hoàng Phát - HB, xóm Cang 3, phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ, đang đem lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững, cho thu lời hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Liên kết trồng chanh không hạt, nông dân lãi nửa tỷ đồng mỗi ha

Liên kết trồng chanh không hạt, nông dân lãi nửa tỷ đồng mỗi ha

Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đối mặt với nhiều thách thức do sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và biến động thị trường ngày càng phức tạp, nhiều mô hình liên kết hợp tác trong sản xuất – tiêu thụ tại tỉnh Vĩnh Long chứng minh tính hiệu quả bền vững.

Nông dân tỷ phú với mô hình kết hợp 'nuôi - trồng'

Nông dân tỷ phú với mô hình kết hợp 'nuôi - trồng'

Năm 2025, thành phố Cần Thơ có 3 nông dân được Hội Nông dân Việt Nam bình chọn là nông dân xuất sắc Việt Nam, trong đó có ông Trần Hồng Quan, ấp Trường Hiệp, xã Trường Long Tây. Với mô hình phát triển kinh tế - nuôi ba ba kết hợp trồng sầu riêng và lúa, nông dân Trần Hồng Quan thu lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Tạo cơ chế khuyến khích nông nghiệp hữu cơ

Tạo cơ chế khuyến khích nông nghiệp hữu cơ

Tỉnh Đồng Nai khuyến khích các tổ chức và cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh nông, lâm, thủy sản thực hiện phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm an toàn và chất lượng cao, nâng cao giá trị sản phẩm cao gấp 1,5 - 2,0 lần so với sản phẩm nông nghiệp thông thường; đảm bảo an toàn cho người sản xuất, bảo vệ sự đa dạng hệ sinh thái và môi trường; gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững.

Nâng cao hiệu quả cánh đồng lúa 'thông minh'

Nâng cao hiệu quả cánh đồng lúa 'thông minh'

Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi số, xã Tân Xuân, tỉnh Vĩnh Long tổ chức sản xuất mô hình cánh đồng "thông minh", áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại. Qua đó, làm thay đổi tư duy, tập quán sản xuất lúa truyền thống của người dân, mang lại hiệu quả tích cực cho bà con, nhất là triển khai chuyển đổi số trong nông nghiệp.

Thành công của nhà nông dân tộc thiểu số với mô hình nông nghiệp công nghệ cao

Thành công của nhà nông dân tộc thiểu số với mô hình nông nghiệp công nghệ cao

Tại tỉnh Đồng Nai, nhà nông là hộ dân tộc thiểu số đã mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp đang mang lại hiệu quả vượt trội. Với sự hỗ trợ từ các chính sách của Nhà nước và vai trò cầu nối của Hội Nông dân, nhiều nông dân đã mạnh dạn thay đổi tư duy, từ bỏ lối canh tác truyền thống để tiếp cận các mô hình tiên tiến, mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.

Ông 'vua cam' nơi vùng đất đồi cằn cỗi

Ông 'vua cam' nơi vùng đất đồi cằn cỗi

Về xã Nam Trạch, hỏi ông Bế Văn Mai, ai cũng biết đến vì ông là “vua cam” trên vùng đất đồi này. Ông Bế Văn Mai (xã Nam Trạch, tỉnh Quảng Trị) là một trong những tấm gương tiêu biểu trong phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi.

Mở hướng mới phát triển nông nghiệp xanh ở lòng Bảy Núi

Mở hướng mới phát triển nông nghiệp xanh ở lòng Bảy Núi

Từ ý tưởng nhen nhóm trong đại dịch COVID-19, với bản lĩnh, sự nhạy bén và tinh thần dám dấn thân, chị Châu Thị Nương (48 tuổi, xã Cô Tô, tỉnh An Giang) đã gây dựng thành công trang trại trồng nấm dược liệu công nghệ cao tuần hoàn khép kín với quy mô hàng chục ha, mang tên “Nương Farm”. Thành công của chị Nương đã mở ra hướng phát triển nông nghiệp xanh, bền vững giữa lòng Bảy Núi.

Phát triển năng lực học sinh miền núi

Phát triển năng lực học sinh miền núi

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 góp phần quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy, học, kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh... Đây là đánh giá được đưa ra tại Hội nghị tổng kết 5 năm triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, do Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn tổ chức ngày 19/9.

Hỗ trợ nông dân phòng trừ sâu hại cây dừa bằng biện pháp sinh học

Hỗ trợ nông dân phòng trừ sâu hại cây dừa bằng biện pháp sinh học

Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long đang tích cực triển khai hướng dẫn nông dân về biện pháp sinh học để phòng trừ các đối tượng sâu hại cây dừa; đặc biệt là sâu đầu đen và bọ cánh cứng, hai loại gây hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng vườn dừa.