Lễ hội Khai hạ năm 2026: Điểm nhấn du lịch văn hóa gắn với bốn vùng Mường lớn

Ngày 24/2, tại sân vận động xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ diễn ra Lễ hội Khai hạ (hay còn gọi là lễ xuống đồng, lễ mở cửa rừng) - lễ hội dân gian truyền thống lớn nhất của người Mường. Đây là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng gắn liền với bốn vùng Mường lớn: Bi, Vang, Thàng, Động. Lễ hội là dịp để người dân tưởng nhớ những người đã có công mở đất, lập mường và tôn kính các vị thần linh đã che chở cho bản làng.

khai-hoi-muong-bi-24022026-02.jpg
Nghi lễ cầu mùa do thầy mo thực hiện tại lễ hội. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Tại buổi lễ, Chủ tịch UBND xã Mường Bi Lê Chí Huyên cho biết, năm 2026 mang ý nghĩa đặc biệt, là dấu mốc quan trọng khi tỉnh Phú Thọ cùng cả nước đã chính thức triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc đổi mới bộ máy quản lý không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành mà còn đặt ra trách nhiệm lớn hơn trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ngay từ cơ sở, để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của sự phát triển.

Lễ hội Khai hạ năm 2026 được tổ chức với quy mô cấp tỉnh, không chỉ khẳng định sức sống bền bỉ của di sản, mà còn là minh chứng cho sự hội tụ, kế thừa và lan tỏa giá trị di sản văn hóa của dân tộc khi về với đất Mường. Đặc biệt, với sự tham gia của các vùng Mường cổ cùng sự giao lưu của các xã Thanh Sơn, Tu Vũ, Sông Lô và phường Vân Phú... Sự kết nối này đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng, thống nhất, thể hiện tinh thần gắn kết bền chặt giữa các dân tộc anh em trên quê hương Đất Tổ.

Nghi thức rước kiệu tại lễ hội . Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Nghi thức rước kiệu tại lễ hội . Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Lễ hội Khai hạ dân tộc Mường không chỉ là một hoạt động tín ngưỡng mà đã trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các trò chơi dân gian, người dân bản địa và du khách thập phương đã cùng nhau quảng bá hình ảnh vùng đất và con người Phú Thọ: Nghĩa tình - Năng động - Hội nhập.

Lễ hội mang theo khát vọng về một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi nhà. Thông qua lễ hội, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc được khơi dậy, giúp các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Mường.

Vẻ đẹp của thiếu nữ dân tộc Mường tại Lễ hội. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Vẻ đẹp của thiếu nữ dân tộc Mường tại Lễ hội. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Lễ hội Khai hạ dân tộc Mường với chủ đề “Về với Đất Mường - Hội tụ, kế thừa và lan tỏa giá trị di sản”, lễ hội diễn ra trong 3 ngày (từ 22-24/2, tức mùng 6-8 tháng Giêng năm Bính Ngọ). Đây là sự kết hợp hài hòa giữa phần lễ trang nghiêm và phần hội sôi động. Phần lễ được tổ chức với nghi lễ cúng Thổ công, Thổ địa và thờ cúng Thành Hoàng tại miếu thờ. Nghi thức rước kiệu Quốc Mẫu Hoàng Bà từ Miếu thờ xóm Lũy xuống sân vận động. Màn diễn xướng “Mo dấng chiêng” và nghi thức xuống đồng đầu xuân tại ruộng Nà Trùng - nét đặc trưng của ngày hội.

Quang cảnh lễ hội Khai hạ xã Mường Bi tỉnh Phú Thọ. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Quang cảnh lễ hội Khai hạ xã Mường Bi tỉnh Phú Thọ. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Phần hội đa sắc màu diễn ra với các hoạt động thi và trình diễn như trình diễn trang phục dân tộc Mường; thi trưng bày trại văn hóa và kết hợp trình diễn các loại hình văn hóa; thi trưng bày ẩm thực dân tộc; giải bóng chuyền; thi hát đối...

Các hoạt động trải nghiệm, trình diễn gồm nghề dệt thổ cẩm; thiêu rượu, làm rượu cần; làm lịch tre, tìm hiểu giá trị và cách sử dụng lịch tre (Lịch Đoi); trò chơi dân gian; hát thường đang - bộ meẹng (Dân ca dân tộc Mường); các hoạt động văn hóa (thổi sáo ôi, múa sạp, bản âm, chiêng...). Đặc biệt, lễ hội năm nay có sự tham gia trình diễn Hát Xoan (phường Vân Phú) và Trống quân (xã Sông Lô) - những di sản văn hóa tiêu biểu của Đất Tổ.

Các nghệ nhân trong trang phục dân tộc trình diễn chiêng Mường tại lễ hội Khai hạ. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Các nghệ nhân trong trang phục dân tộc trình diễn chiêng Mường tại lễ hội Khai hạ. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Chương trình nghệ thuật chào mừng có sự tham gia của hơn 400 nghệ nhân hòa tấu chiêng Mường cùng màn đốt lửa trại đêm hội, tạo điểm nhấn đặc sắc cho lễ hội.

Chị Bùi Thị Dung, xã Mường Bi cho biết, người dân luôn tự hào về văn hóa bản địa được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Mỗi dịp đầu xuân, lễ hội không chỉ là nghi thức cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu mà còn là dịp để cộng đồng gắn kết, tri ân tổ tiên, tôn vinh bản sắc dân tộc. Những tiếng chiêng, điệu múa truyền thống và trò chơi dân gian tạo nên không khí sôi nổi, đậm đà bản sắc. Với người dân nơi đây, lễ hội là niềm tự hào, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa Mường đến bạn bè gần xa.

Đông đảo các nghệ nhân đánh chiêng mường trên cánh đồng trong nghi thức xuống đồng tại lễ hội. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

Đông đảo các nghệ nhân đánh chiêng mường trên cánh đồng trong nghi thức xuống đồng tại lễ hội. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

Anh Nguyễn Tuấn Anh (du khách Hà Nội) chia sẻ, lễ hội tạo ấn tượng sâu sắc khi du khách được hòa mình vào không gian văn hóa đặc trưng, tham gia trò chơi dân gian, thưởng thức ẩm thực truyền thống và nghe kể về truyền thuyết Mường Bi - cái nôi của văn hóa Mường. Sự kiện không chỉ là lễ hội đầu năm mà còn giúp du khách hiểu rõ hơn về tinh thần đoàn kết cộng đồng, niềm tin vào một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Anh mong muốn lễ hội tiếp tục được bảo tồn, quảng bá rộng rãi, trở thành điểm nhấn du lịch văn hóa đặc sắc của địa phương mỗi độ xuân về.

Nghi thức xuống đồng trồng lúa nước của người dân tộc Mường tại lễ hội. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Nghi thức xuống đồng trồng lúa nước của người dân tộc Mường tại lễ hội. Ảnh:Trọng Đạt/TTXVN

Lễ hội Khai hạ dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ năm 2026 là cơ hội để du khách thập phương về với vùng đất Mường Bi, hòa mình trong không gian văn hóa rực rỡ, cảm nhận sự hiếu khách và khát vọng vươn lên của người dân nơi đây trong mùa Xuân mới./.

Dân tộc Mường

Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).

Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.

Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...

Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.

Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).

Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.

Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.


Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.

Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.

: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.

Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.

Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.

Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.

Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.

Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.

Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.

Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.

Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.

Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.

Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.

Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.

Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.

Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.

Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.

Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mường

Có thể bạn quan tâm

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Trong không khí hân hoan những ngày đầu năm Bính Ngọ 2026, du lịch Phú Thọ ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực, khởi đầu một năm mới với nhiều kỳ vọng bứt phá. Dòng người hành hương, du xuân về các điểm đến tâm linh, sinh thái, nghỉ dưỡng trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, tạo nên bức tranh sôi động, rộn ràng ngay từ những ngày đầu năm.

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra đối với Khánh Hòa không chỉ dừng ở việc khai thác hiệu quả các lợi thế về kinh tế biển, du lịch, đô thị mà còn đòi hỏi khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh từ văn hóa và con người. Đây được xác định là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và tính bền vững của quá trình phát triển trong giai đoạn mới.

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Những căn nhà sàn san sát, đường bê tông khang trang, bản Táng Ngá của đồng bào dân tộc Cống ở xã Mường Mô (tỉnh Lai Châu) giờ đã "thay da đổi thịt". Người Cống vừa làm kinh tế, vừa bảo tồn giá trị văn hóa của mình trên mảnh đất các cộng đồng dân tộc Lai Châu.

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Những ngày đầu xuân, khi sương mỏng còn quẩn quanh sườn núi, rừng già phía thượng nguồn khoác lên mình vẻ trầm mặc, đồng bào Dao đỏ lại bước vào một nghi lễ quan trọng bậc nhất trong năm - Lễ cầu mùa. Không rộn ràng như hội xuân miền xuôi, không ồn ào tiếng trống chiêng dồn dập, lễ cầu mùa của người Dao đỏ diễn ra lặng lẽ mà thiêng liêng, như một lời thì thầm gửi tới đất trời, núi rừng và tổ tiên, trước khi con người bắt đầu một chu kỳ canh tác mới.

Xuân mới trên Cù lao Tân Phú Đông

Rộn ràng khai hội Chùa Tiên

Ngày 20/2 (tức mùng 4 Tết Bính Ngọ), tại xã An Nghĩa, tỉnh Phú Thọ, diễn ra lễ khai hội Chùa Tiên năm 2026, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương về dự. Đây là mùa hội xuân đầu tiên sau khi xã An Nghĩa thực hiện mô hình hành chính mới, tạo khí thế phấn khởi, mở đầu cho năm du lịch tâm linh sôi động trên địa bàn.

Âm vang tiếng chiêng ba giữa đại ngàn mùa Xuân

Âm vang tiếng chiêng ba giữa đại ngàn mùa Xuân

Khi sắc hoa rừng bừng sáng bên sườn núi cũng là lúc tiếng chiêng ba của đồng bào Hrê (tỉnh Quảng Ngãi) lại vang vọng khắp đại ngàn. Giữa màn sương mờ của những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, âm thanh trầm hùng ấy không chỉ là giai điệu mừng năm mới, mà còn là nhịp thở, là lời khấn nguyện thiêng liêng cho một mùa rẫy ấm no, bản làng bình yên.

Độc đáo bánh bò nướng Ha Cô của đồng bào Chăm

Độc đáo bánh bò nướng Ha Cô của đồng bào Chăm

Nằm ven sông Hậu, làng Chăm Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang) sở hữu món bánh bò nướng Ha Cô mộc mạc nhưng lại tạo nên sức hấp dẫn riêng có. Từ những nguyên liệu giản dị như bột gạo, bột mì, nước cốt dừa, đường và trái thốt nốt chín, đồng bào đã khéo léo tạo nên món ăn truyền thống độc đáo khiến du khách say mê khi có dịp thưởng thức.

Âm vang tiếng chiêng ba giữa đại ngàn đầu Xuân

Âm vang tiếng chiêng ba giữa đại ngàn đầu Xuân

Khi những sắc hoa rừng bừng sáng bên sườn núi cũng là lúc tiếng chiêng ba của đồng bào Hrê (tỉnh Quảng Ngãi) lại vang vọng khắp đại ngàn. Giữa màn sương mờ của những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, âm thanh trầm hùng ấy không chỉ là giai điệu mừng năm mới mà còn là nhịp thở, là lời nguyện thiêng liêng cho một mùa rẫy ấm no, bản làng bình yên.

Thanh âm trống tế ngày Xuân

Thanh âm trống tế ngày Xuân

Trong dòng chảy văn hóa ngàn năm của vùng đất học Nghệ An, tiếng trống tế không chỉ đơn thuần là nhạc khí, mà là “linh hồn” kết nối cõi thực và cõi tâm linh, là nhịp đập của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Từ những bản nhạc cung đình lưu dấu ấn lịch sử thời Lê Trung Hưng, nghệ thuật trống tế xã Yên Thành đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định sức sống mãnh liệt trong lòng đời sống đương đại.

Xin chữ đầu năm – nét đẹp văn hóa truyền thống

Xin chữ đầu năm – nét đẹp văn hóa truyền thống

Mỗi độ Tết đến xuân về, giữa sắc đào hồng, mai vàng rực rỡ, người Việt lại tìm về một nét đẹp văn hóa truyền thống – xin chữ đầu năm. Không đơn thuần là một thú chơi tao nhã, mỗi con chữ được trao đi còn gửi gắm niềm tin, hy vọng và những ước vọng bình an cho một năm mới đủ đầy.

Sẵn sàng cho mùa du lịch Tết Nguyên đán

Sẵn sàng cho mùa du lịch Tết Nguyên đán

Nắm bắt xu hướng đi du lịch thay vì chỉ ở nhà ăn Tết, dịp Tết nguyên đán 2026, ngành du lịch Thanh Hóa đã sớm chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng đón dòng khách du Xuân ngay từ những ngày đầu năm mới.

Mùa Xuân bừng sắc trên các bản Mông Phú Thọ

Mùa Xuân bừng sắc trên các bản Mông Phú Thọ

Những ngày giáp Tết Nguyên đán 2026, khi sương mù còn giăng kín sườn núi, mùa Xuân đã về trên các bản Mông ở Phú Thọ như Pà Cò, Thu Cúc, Trung Sơn. Sắc xuân không chỉ hiện hữu trong cành đào phai, bánh giầy, tiếng khèn bên bếp lửa mà còn trong những đổi thay rõ nét về kinh tế, văn hóa, xã hội. Xuân hôm nay không còn nỗi lo giáp hạt hay sự khép kín, mà là mùa của niềm tin, của khát vọng vươn lên, hội nhập nhưng vẫn gìn giữ bản sắc văn hóa giàu truyền thống.

Triển lãm 'Bao cấp – Một thời để nhớ' với hơn 220 hình ảnh, tài liệu, hiện vật

Triển lãm 'Bao cấp – Một thời để nhớ' với hơn 220 hình ảnh, tài liệu, hiện vật

Ngày 10/2, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai phối hợp với Bảo tàng Pleiku tổ chức triển lãm chuyên đề “Bao cấp – Một thời để nhớ”, nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026 và chào mừng Lễ hội kỷ niệm 255 năm Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn (1771–2026), 237 năm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (1789–2026).

Khám phá nét đẹp văn hóa của làng gốm Chăm cổ nhất Đông Nam Á

Khám phá nét đẹp văn hóa của làng gốm Chăm cổ nhất Đông Nam Á

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các thợ làm gốm ở làng gốm Chăm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) tất bật sản xuất linh vật ngựa phục vụ thị trường. Nhiều mẫu linh vật ngựa được chế tác đa dạng về kiểu dáng, kích thước, đáp ứng nhu cầu trang trí và đặt hàng theo yêu cầu của khách hàng.

Độc đáo '27 phong vị ẩm thực Điện Biên'

Độc đáo '27 phong vị ẩm thực Điện Biên'

Sáng 8/2, tại chợ du lịch Mường Thanh, phường Điện Biên Phủ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên tổ chức Liên hoan ẩm thực “27 phong vị ẩm thực Điện Biên”, nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa ẩm thực truyền thống được hun đúc qua bao thế hệ của đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên.

'Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954': Khi ký ức lịch sử sống dậy giữa mùa Xuân hôm nay

'Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954': Khi ký ức lịch sử sống dậy giữa mùa Xuân hôm nay

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), không gian “Tết chiến sĩ Điện Biên - Xuân 1954” được tái hiện sống động, đưa người dân, du khách trở về thời khắc lịch sử cách đây hơn bảy thập kỷ, khi quân và dân ta đón Tết giữa núi rừng Tây Bắc trong điều kiện vô cùng gian khổ nhưng tràn đầy niềm tin tất thắng.

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, từ ngày 10 - 30/1, các đội chiếu phim lưu động thuộc Trung tâm Văn hóa - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức đợt chiếu phim Việt Nam phục vụ đông đảo người dân trên địa bàn tỉnh.

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

“Tà Số - Mùa Xuân về” là chủ đề Chương trình Tết Mông năm 2026 do UBND phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Chương trình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dịp Tết cổ truyền của người Mông, mà còn là dịp để du khách khám phá nét đẹp nguyên sơ của Tà Số.

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng tại phường An Nhơn Bắc là một minh chứng điển hình cho sự bảo tồn và phát triển nghề truyền thống tại Gia Lai. Trải qua hàng trăm năm với nhiều thăng trầm, làng nghề không những không bị mai một mà ngày một phát triển, đã và đang tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

An Giang đang đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số trong văn hóa và bảo tàng để giúp người dân, du khách tiếp cận dễ dàng hơn với các hiện vật, tư liệu. Ban Quản lý di tích văn hoá Óc Eo tỉnh An Giang cũng nhanh chóng xây dựng kế hoạch, triển khai nhiều giải pháp để chuyển đổi số toàn diện hoạt động của Nhà trưng bày Văn hoá Óc Eo và các điểm di tích trọng điểm của Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.