Người "giữ lửa" nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Êđê

Bà H’Yam (phải), Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông quan sát, hướng dẫn xã viên dệt thổ cẩm. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN
Bà H’Yam (phải), Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông quan sát, hướng dẫn xã viên dệt thổ cẩm. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN

Trăn trở khi thấy nghề dệt thổ cẩm truyền thống có nguy cơ bị mai một, bà H’Yam Bkrông (sinh năm 1965), buôn Tơng Jú, xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã khởi xướng thành lập Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông. Đến nay, sau 17 năm thành lập và phát triển, hợp tác xã có đầu ra ổn định, giữ gìn được nghề truyền thống của dân tộc Êđê, giúp nâng cao đời sống hội viên phụ nữ dân tộc thiểu số tại chỗ.

Người "giữ lửa" nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Êđê ảnh 1

Bà H’Yam (phải), Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông quan sát, hướng dẫn xã viên dệt thổ cẩm. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN

Nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 12km, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông hiện có 45 thành viên, đều là người dân tộc Êđê. Xã viên hợp tác xã đều biết dệt may thành thạo các sản phẩm như y phục nam nữ, túi xách, cà vạt, khăn trải bàn, gối tựa lưng, áo dài, quần áo trẻ em… Doanh thu của Hợp tác xã ổn định khoảng 1,2 tỷ đồng/năm, trong đó thu nhập của xã viên trung bình từ 3,2 – 3,5 triệu đồng/người/tháng. Mức thu nhập này không cao so với các ngành nghề khác song đã góp phần giúp chị em xã viên ổn định kinh tế gia đình, giữ gìn được nghề truyền thống. Đây được xem là thành quả đối với những nỗ lực không mệt mỏi của bà H’Yam và các xã viên.

Bà H’Yam kể lại, năm 2003 khi là Ủy viên Ban Thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ xã, bà thấy nghề dệt thổ cẩm truyền thống có nét đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê đang dần bị lãng quên. Dệt thổ cẩm lúc bấy giờ chỉ là phương pháp dệt thủ công, nhỏ lẻ, sản phẩm chủ yếu dùng trong gia đình, được phụ nữ trong buôn tranh thủ dệt lúc rảnh rỗi. Với khao khát giữ lửa cho nghề dệt truyền thống và giúp chị em có thêm thu nhập, bà H’Yam đã mạnh dạn đề xuất Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban nhân dân xã thành lập tổ dệt. Bản thân bà H’Yam cũng đi vận động chị em trong buôn và các buôn lân cận tham gia. May mắn là chị em hưởng ứng nhiệt tình và thống nhất chọn mô hình hợp tác xã để khởi xướng "giữ lửa" nghề dệt.

Người "giữ lửa" nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Êđê ảnh 2Hiện nay, xã viên hợp tác xã đều đã biết dệt may thành thạo các sản phẩm như y phục nam nữ, túi xách, cà vạt, khăn trải bàn, gối tựa lưng, áo dài, quần áo trẻ em. Ảnh: TTXVN phát

Ban đầu khi mới thành lập, do khó khăn, Hợp tác xã chỉ có 3 xã viên góp vốn theo quy định, các xã viên khác chỉ có thể góp 50 – 100 ngàn đồng. Lúc bấy giờ, tay nghề xã viên chưa có, sản phẩm chưa đạt yêu cầu về thẩm mỹ nên khó tìm đầu ra cho sản phẩm. Được Hội liên hiệp phụ nữ xã cho vay 1,2 triệu đồng, hợp tác xã đã mua khung dệt và mời nghệ nhân trong buôn dạy xã viên dệt, may. Ngoài ra, bà H’Yam cùng các thành viên đã tích cực học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo những sản phẩm đa dạng về mẫu mã, hoa văn nên khâu tiêu thụ ngày càng tốt hơn. Những tháng ngày khó khăn ấy, với vóc dáng nhỏ nhắn và tấm lòng yêu ngành nghề truyền thống, bà H’Yam đã kiên trì tìm kiếm, thuyết phục khách hàng. Đến nay, hợp tác xã đã có đầu ra ổn định tại các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Quảng Ninh. Ngoài ra, sản phẩm của hợp tác xã được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam và được mời tham gia nhiều hội thi trang phục các dân tộc.

Sau 5 năm tham gia Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông, chị H’Phi Líp Byă (sinh năm 1992, buôn Tơng Jú, xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột) cho biết, trước đây chị không biết may và dệt thổ cẩm. Từ khi tham gia hợp tác xã, chị được học dệt, học may, nhờ đó biết dệt thổ cẩm bằng tay, bằng máy; biết cắt may những bộ trang phục truyền thống, giỏ xách các loại. Chị H’Phi Líp chia sẻ, nhờ bà H’Yam giúp đỡ nên chị và các chị em trong hợp tác xã có được nghề dệt may, tạo ra những sản phẩm đặc trưng để giới thiệu cho du khách xa gần, có thu nhập ổn định.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, giảm giá thành sản phẩm và cạnh tranh được với thổ cẩm của các dân tộc khác, sau khi Hội liên hiệp phụ nữ xã tạo điều kiện cho vay vốn, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông đã mạnh dạn đầu tư thêm 5 máy dệt và các máy xếp sợi, máy cuộn thoi, máy cuộn sợi.

Bà H’Yam Bkrông, Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông chia sẻ, dù sản phẩm của hợp tác xã được cải tiến, mẫu mã thay đổi thường xuyên nhưng nền màu đen và họa tiết màu đỏ sẽ mãi không thay đổi vì đó là bản sắc văn hóa của dân tộc Êđê. Về kinh nghiệm để hợp tác xã ngày càng phát triển, bà H’Yam cho biết, bà và Ban quản trị Hợp tác xã luôn đề cao tính công bằng, minh bạch trong quá trình hoạt động và phân chia lợi nhuận cho xã viên. Ngoài ra, mọi người hợp tác xã còn đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống, kịp thời biểu dương các xã viên điển hình để tạo khí thế sôi nổi trong thi đua sản xuất.

Ngoài nghề dệt thổ cẩm, để tăng thêm thu nhập cho xã viên, hợp tác xã còn xây dựng trang trại nuôi hơn 2.000 con gà thả vườn và khoảng 300 con lợn. Với những lợi thế của địa phương về phát triển du lịch, hiện Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông đã xây dựng khu du lịch cộng đồng trên địa bàn buôn Tơng Jú với 3 nhà sàn trưng bày nhạc cụ, vật dụng lao động sản xuất, dụng cụ dệt vải, dụng cụ săn bắt của đồng bào Êđê. Khách du lịch đến đây, có thể được dệt thổ cẩm, được tham quan trải nghiệm đời sống, thưởng thức món ăn của người Êđê; say sưa trong tiếng cồng, tiếng chiêng, trong hương men rượu cần.

Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Ea Kao Trịnh Thị Tuyết cho biết, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông là mô hình mà chính quyền địa phương rất tâm đắc. Sự thành công của hợp tác xã hiện nay có sự đóng góp quan trọng của bà H’Yam, một người gương mẫu, giỏi quản lý, nỗ lực học hỏi, nghiên cứu, nắm bắt tốt thông tin thị trường. Những việc làm của bà có lợi cho người dân địa phương và tạo công ăn việc làm cho người dân tộc thiểu số tại chỗ; qua đó người dân đoàn kết, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bà H’Yam còn là Buôn trưởng buôn Tơng Jú, là người có uy tín với cộng đồng, triển khai được các phong trào thi đua yêu nước đến đông đảo người dân trong buôn.

Với những nỗ lực trong 17 năm qua, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2013 vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Ngoài ra, hợp tác xã còn được nhận 4 Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, 3 Bằng khen của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Người "giữ lửa" nghề dệt thổ cẩm truyền thống của dân tộc Êđê ảnh 3 Bà H’Yam (trái), Giám đốc Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông hướng dẫn xã viên dệt thổ cẩm. Ảnh: TTXVN phát

Về dự định trong thời gian tới, bà H’Yam chia sẻ mong muốn giới thiệu bản sắc văn hóa của dân tộc, đời sống của người Êđê đến đông đảo du khách. Tuy nhiên, để đầu tư cho du lịch cộng đồng, kinh phí của hợp tác xã còn eo hẹp, cần sự quan tâm đầu tư của các cấp, các ngành. Hợp tác xã cũng mong muốn được tập huấn, nâng cao kỹ năng, kiến thức về mô hình du lịch cộng đồng; liên kết quảng bá, tiêu thụ cho các sản phẩm thổ cẩm.

Về buôn Tơng Jú, xã Ea Kao, thành phố Buôn Ma Thuột có thể thấy vẻ đẹp lao động miệt mài bên khung dệt của những người phụ nữ Êđê nơi đây. Cũng chính nhờ nghề dệt này, mỗi người phụ nữ am hiểu hơn về bản sắc văn hóa dân tộc để có thể tự tin làm một hướng dẫn viên quảng bá, giới thiệu sản phẩm, cuộc sống thường ngày cho du khách. Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông cũng trở thành hợp tác xã kiểu mẫu về tính nhanh nhạy, nắm bắt thị trường song giữ lửa được ngành nghề truyền thống của dân tộc, thiết thực cùng địa phương xóa đói giảm nghèo.


Hoài Thu

(TTXVN)
Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê

Có thể bạn quan tâm

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.