Ngày 22/3, tại Bàu K Poch (ấp Sóc Lớn, xã Lộc Hưng, tỉnh Đồng Nai) diễn Lễ hội Dua Tpeng hay còn gọi là lễ hội Phá Bàu. Sự kiện thu hút đông đảo người dân địa phương, các vùng lân cận cùng tạo nên không khí lễ hội sôi nổi và thắm tình đoàn kết.
Nghi thức cúng Lễ hội Phá Bàu.
Lễ hội Dua Tpeng là nét văn hóa đặc sắc mang tính riêng có của người Khmer tại xã Lộc Hưng nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung. Trong ký ức của các bậc cao niên nơi đây, lễ hội luôn chiếm một vị trí không thể thay thế. Lễ hội Dua Tpeng phản ánh sâu sắc tư duy ứng xử với môi trường tự nhiên thông qua hoạt động đánh bắt thủy sản truyền thống. Đây là dịp để cộng đồng vừa khai thác sản vật từ các bàu nước, vừa vui chơi, giao lưu và thắt chặt tình đoàn kết sau những ngày lao động vất vả.
Nghi thức cúng Lễ hội Phá Bàu.
Ông Nguyễn Hữu Thương, Trưởng ban tổ chức lễ hội Phá Bàu, Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Hưng cho biết: Lễ hội Dua Tpeng của người Khmer được hình thành từ lâu đời, được người dân gìn giữ và thực hành thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa cộng đồng. Nhiều năm qua, người dân luôn nêu cao tinh thần bảo tồn những nét đẹp nguyên bản thông qua việc tuân thủ nghiêm túc các nghi thức và trò chơi dân gian truyền thống. Chính sự nỗ lực này đã góp phần quan trọng giúp lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019.
Thi đánh bắt cá tại lễ hội.
Để di sản văn hóa tồn tại bền vững trong cộng đồng, ông Nguyễn Hữu Thương mong muốn người dân địa phương, trước hết là đồng bào Khmer, hãy yêu quý và bảo vệ lễ hội bằng cả tấm lòng. Bà con cần gìn giữ các giá trị truyền thống lâu đời, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị mới phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và bản sắc văn hóa người Khmer tại Lộc Hưng nói riêng, tỉnh Đồng Nai nói chung nhằm tránh làm biến đổi hay biến dạng lễ hội.
Trước đây, Lễ hội Dua Tpeng vốn là di sản văn hóa truyền thống đặc sắc của cộng đồng người Khmer tại xã Lộc Khánh trước đây (nay thuộc xã Lộc Hưng). Việc duy trì tổ chức lễ hội không chỉ nhằm bảo tồn các giá trị nguyên gốc của di sản mà còn khơi dậy tiềm năng, quảng bá rộng rãi nét đẹp văn hóa phi vật thể quốc gia đến với công chúng.
Trong phần trò chơi dân gian truyền thống diẽn ra sau phần nghi lễ, người dân trực tiếp xuống bàu bắt cá. Con cá lớn bắt đầu tiên sẽ dâng cho già làng. Mọi người sau đó lấy sản phẩm bắt được cùng nướng và chế biến các món ăn truyền thống để ăn tại lễ hội.
Thông qua lễ hội, chính quyền địa phương kỳ vọng nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân trong việc chung tay gìn giữ bản sắc dân tộc. Đây cũng là nhịp cầu để các nghệ nhân, già làng và người có uy tín giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, từ đó phát huy vai trò “giữ lửa” văn hóa trong cộng đồng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc.
Trong phần trò chơi dân gian truyền thống diẽn ra sau phần nghi lễ, người dân trực tiếp xuống bàu bắt cá. Con cá lớn bắt đầu tiên sẽ dâng cho già làng. Mọi người sau đó lấy sản phẩm bắt được cùng nướng và chế biến các món ăn truyền thống để ăn tại lễ hội.
Tại phần hội, không gian Bàu K Poch trở nên náo nhiệt với các hoạt động vui chơi giải trí mang đậm tính cộng đồng. Các trò chơi dân gian như đi cà kheo, bịt mắt đập niêu, Lec Com Seng (giấu khăn)…thu hút sự tham gia hào hứng của mọi lứa tuổi. Song song đó, các hoạt động chuẩn bị bếp, nướng cá và chế biến các món ẩm thực truyền thống ngay tại chỗ. Đặc biệt, trong lúc cư dân xuống bàu bắt cá, trên bờ tiếng nhạc ngũ âm và những điệu múa dân gian uyển chuyển vang lên liên tục để khích lệ tinh thần.
Trong phần trò chơi dân gian truyền thống diễn ra sau phần nghi lễ, người dân trực tiếp xuống bàu bắt cá. Con cá lớn bắt đầu tiên sẽ dâng cho già làng. Mọi người sau đó lấy sản phẩm bắt được cùng nướng và chế biến các món ăn truyền thống để ăn tại lễ hội.
Theo già làng Lâm Đin, Dua Tpen không đơn thuần là đi bắt cá. Đó là nghi thức tạ ơn thần linh đã ban cho nguồn nước, tôm cá đầy bàu và cầu mong một mùa vụ mới mưa thuận gió hòa, ấm no cho sóc. Trước đây Lễ hội Dua Tpeng mang tính tự phát, không được tổ chức quy mô, bài bản, chỉ có một nhóm nhỏ người tham dự. Từ khi được Nhà nước quan tâm, đầu tư kinh phí để khôi phục, bà con đã nỗ lực phối hợp với chính quyền địa phương duy trì đều đặn tổ chức Lễ hội vào tháng ba hàng năm.
Lễ hội Dua Tpeng tại xã Lộc Hưng không chỉ là ngày hội rực rỡ sắc màu mà còn là thể hiện việc tiếp nối và phát huy các giá trị di sản, khẳng định vị thế của văn hóa Khmer trong dòng chảy văn hóa đa dạng của tỉnh Đồng Nai./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn