Vài nét về văn hóa và phong tục của người Kháng

Vài nét về văn hóa và phong tục của người Kháng
Người Kháng còn có tên gọi khác, đó là Xá Khao, Xá Xú, Xá Đơn, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá A Ỏ, Xá Bung, Quảng Lâm. Tuy nhiên, tên gọi chính thức của nhà nước ta đối với cộng đồng này là dân tộc Kháng – một trong 54 dân tộc của Việt Nam.
Người Kháng nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Khơ Mú, của ngữ tộc Môn-Khmer. Ngôn ngữ của họ khá giống với tiếng Xinh Mun, hay còn gọi là tiếng Puộc.

Ở nước ta, người Kháng cư trú chủ yếu ở Sơn La, Lai Châu và Điện Biên. Theo tổng điều tra dân số năm 1999, người Kháng có 10.272 người. Mười năm sau, 2009, lên tới 13.840 người. Tỷ lệ tăng như thế là vừa phải trong chủ trương kế hoạch hóa gia đình của nước ta. Nói Điện Biên, Sơn La, Lai Châu là địa bàn cư trú gốc của người Kháng, còn ngày nay, họ đã phân bố ở 25 tỉnh và thành phố do nhu cầu đời sống riêng tư, công việc làm ăn và công tác được phân công. Người Kháng còn cư trú ở bên Lào, các tỉnh sát biên giới, gần cận với các địa bàn gốc của họ tại Điện Biên, Sơn La, Lai Châu. Tại đây, họ cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Phong-Kniang, Pong 3, Khaniang, Keniang, Lao Phong, với dân số khoảng 1.000 người.
 
Trang phục của thiếu nữ dân tộc Kháng.
Trang phục của thiếu nữ dân tộc Kháng.

Kinh tế chủ yếu của người Kháng là làm rẫy theo lối chọc lỗ tra hạt. Đây là phương thức làm nông nghiệp nương rẫy cổ xưa nhất có từ thời văn hóa Đông Sơn mà những dấu ấn của tục thờ thần Mặt trời, quan niệm về vũ trụ thông qua các bước chuyển động của người nông dân khi chọc lỗ tra hạt từ các nương rẫy đã toát lộ quan niệm ấy – điều mà tôi đã giới thiệu về người Mãng Ư, có lối canh tác tương đồng, cũng trong tạp chí này cách đây không lâu. Ngoài lối canh tác ấy, người Kháng còn làm ruộng nước theo phương thức cày bừa, gieo cấy trên các thửa ruộng bậc thang hẹp, nhưng không phổ biến. Người Kháng cũng chăn nuôi gia súc và gia cầm (gà, lợn, trâu) và họ cũng làm đồ đan lát (ghế, rổ, rá, nia, hòm, gùi), làm mộc (thuyền độc mộc kiểu đuôi én) được người Thái ưa dùng. Đó là những công việc nông nhàn, phục vụ cho đời sống tự túc, tự cấp trong các bản làng của họ. Nếu có chăng, không phải là tự túc, tự cấp thì thương mại của họ cũng là hàng đổi hàng. Họ trồng bông rồi đem bông đổi lấy vải và đồ dệt của người Thái – một dân tộc cư trú liền kề, có truyền thống về dệt thổ cẩm và làm chăn đệm bông (Phà Thái). Họ cũng đổi thuyền đuôi én cho người Thái để lấy những nông thổ sản của dân tộc này phục vụ cho đời sống thường nhật.

Ma chay của người Kháng cũng giống như nhiều dân tộc khác ở miền núi phía Tây Bắc nước ta, được biểu hiện rất rõ qua phong tục chôn cất. Người chết được chôn cất chu đáo, có nấm mộ và giỏ cơm, ống hút rượu, bát, đũa… Phía đầu mộ chôn cột cao 4 -5 mét, trên đỉnh có con chim gỗ, có treo chiếc áo của vợ hay chồng người chết.

Người Kháng có quan niệm mỗi con người có 5 hồn, hồn chính trên đầu và 4 hồn kia ở tứ chi. Khi chết, mỗi người biến thành “ma ngắt”, ngụ ở 5 nơi. Hồn chủ thành ma ở nhà, chỗ thờ tổ tiên là “ma ngắt nhá”, hồn tay phải trên thiên đàng là “ma ngắt kỷ”, hồn tay trái ở gốc cây làm quan tài là “ma ngắt hóm”, hồn chân phải ở nhà mồ là “ma ngắt môn”, hồn chân trái lên trời thành ma trời là “ma ngắt xừ rè”.
 
Nhà ở của người Kháng ở Sơn La.
Nhà ở của người Kháng ở Sơn La.

Quan niệm này của người Kháng xuất phát từ một tín ngưỡng rất xa xưa của nhiều dân tộc cư trú ở miền núi Đông Dương. Việc làm nhà mồ, chăm sóc người chết, giữ và bỏ mả, trồng cột gỗ (hoặc đá) tưởng niệm, hồn và vía ở đầu và tứ chi… là một chuỗi quan niệm của cư dân cổ xưa vùng núi bán đảo Đông Dương và xa hơn nữa. Quan niệm này có liên quan tới tín ngưỡng cự thạch (đá lớn) và tàn dư của tín ngưỡng ấy còn thấy ở nhiều dân tộc, trong đó, người Mường là đậm đặc hơn cả. Trên các hòn mồ bằng đá được trồng quanh các huyệt mộ ở các khu mộ ở nghĩa địa dòng họ quan lang Mường Hòa Bình, người ta còn thấy nhiều minh văn, bằng chữ Hán, trên đó nói rõ thân phận chủ nhân mộ, ngày tháng sinh và mất…, có niên đại cuối thế kỷ 17.

Hiện tượng ấy giống như bia mộ của người Kinh, nhưng từ trong sâu thẳm của tư duy tín ngưỡng Mường, những cột đá ấy là nơi trú ngụ của linh hồn. Và đá là nơi cư trú của linh hồn là một trong những tiêu chí tạo nên phức hợp của tín ngưỡng cự thạch. Thế nhưng tín ngưỡng thờ đá là khá phổ biến, trong đó có ở người Việt, song, việc dựng cột đá để tưởng niệm lại được nhiều người cho là của dân tộc Thái – những nhóm cư dân sống liền kề với người Mường, Kháng. Tiếp biến văn hóa từ người Thái (dựng cự thạch) và với  người Kinh (làm bia mộ), cùng với sự tiếp nối truyền thống thờ đá của người Việt cổ, đã tạo nên bản sắc tang ma Mường. Bản sắc ấy na ná với người Kháng qua những miêu tả trực quan và điều tra hồi cố nêu trên.
 
Độc đáo Lễ mừng cơm mới của dân tộc Kháng.
Độc đáo Lễ mừng cơm mới của dân tộc Kháng.

Trở lại với văn hóa vật thể của người Kháng qua ngôi nhà sàn của họ. Nhà người Kháng có 3 gian, 2 chái. Mái nhà sàn của người Kháng cũng tương tự như của người Mường, Thái Đen, có hình mu rùa, với 2 cửa ra vào ở hai đầu nhà, 2 cửa sổ ở 2 vách bên. Mỗi nhà có hai bếp lửa – một để nấu ăn hàng ngày và một để nấu đồ cúng tế khi bố mẹ, ông bà mất.

Cũng giống như nhiều dân tộc khác, ngày nay, trong đời sống vật chất và tinh thần của người Kháng, kể từ hôn nhân, cưới xin, ma chay, ăn mặc và nhà ở của người Kháng, đã có nhiều đổi thay với những đan xen và tiếp biến văn hóa với nhiều dân tộc khác. Đặc biệt với thời đại của truyền thông, giao thông đi lại thuận tiện hơn, sự đan xen, tiếp biến ấy còn đi xa hơn giới hạn vùng, tới cả đất nước và trên thế giới, do vậy, những nét văn hóa truyền thống văn hóa của người Kháng nói riêng và của nhiều dân tộc khác nói chung cũng đã bị phôi pha, dần mai một.
 
Theo thegioidisan.vn
Dân tộc Kháng

Tên tự gọi: Mơ Kháng.

Tên gọi khác: Háng, Brển, Xá.

Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi...

Dân số: 13.840 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Họ nói thạo tiếng Thái.

Lịch sử: Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta.

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo với cách thức phát đốt, chọc lỗ tra hạt. Có thể phân thành 3 nhóm:

Nhóm sống du canh du cư: làm rẫy.

Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng.

Nhóm định canh định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy. Tập quán trồng lúa nếp kết hợp trồng ngô, sắn, vừng... Chăn nuôi khá phát triển: lợn, gà, vịt, trâu, bò. Nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mây, gùi...) Người Kháng giỏi đóng và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én. Thuyền của họ đóng được các dân tộc anh em ưa mua dùng.

Ăn: Người Kháng thích ăn xôi và các món có vị chua, cay như: cá ướp chua, dưa lá củ ráy ngứa, món hỗn hợp gồm lá lốt, thịt, ớt, tỏi, rau thơm hoà trộn, đồ chín. Tục uống bằng mũi (tu mui) là nét văn hóa độc đáo của họ. Người Kháng quen uống rượu trắng, rượu cần, hút thuốc lá và hút thuốc lào.

Mặc: Người Kháng ăn mặc giống người Thái.

: Nhà ở có 2 dạng: nhà tạm bợ và nhà kiên cố. Nhà sàn gồm 1 mái và 2 mái, không phủ nóc, không có chái, có cửa chính thông suốt từ đầu này sang đầu kia, thông với cầu thang nên xuống.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán, thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Nằm trong sự quản lý của các mường Thái trước đây, Người Kháng không có tổ chức xã hội riêng. Chức dịch cao nhất trong bản là: quan cai gần như Tạo bản người Thái. Trong các bản người Kháng đã có sự phân hoá giàu nghèo.

Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản. Bên cạnh đó cũng tồn tại một số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, vai trò ông cậu... Trưởng họ vẫn có vai trò nhất định.

Cưới xin: Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng của người Kháng vừa tự do vừa phải qua nhiều nghi thức. Sau bốn năm đêm tìm hiểu ngủ lại nhà người con gái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì tiến hành ăn hỏi và rất nhiều nghi thức mà đôi trẻ và hai bên nhà trai nhà gái phải thực hiện. Sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồng trẻ phải làm lễ ra mắt hai họ, nhà trai mới tổ chức đón dâu. Ðây là lễ quan trọng nhất.

Ma chay: Người Kháng có tục chia của cho người chết gồm: chăn, đệm, dao, bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi... và những gì khi còn sống người quá cố thường dùng. Tất cả những lễ vật này được đặt phía trên đầu mộ. ở phía đầu mộ còn chôn một cái cột cao, trên đó buộc treo một hình con chim bằng gỗ và một cái áo mà người chết thường mặc. Sau khi chôn xong, về đến nhà, anh em, bà con phải đứng dưới gầm sàn để ông cậu cắt một nhúm tóc bỏ vào bát nước lã đựng trứng, cá sấy khô rồi đem vứt ở vệ đường vào bãi tha ma để hồn người chết không về quấy rối con cháu, người thân.

Thờ cúng: Họ tin rằng con người có 5 hồn. Một hồn chính ở trên đầu bốn hồn ở tứ chi. Khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, bốn hồn còn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi "ăn". Người ta còn tin nhiều loại ma khác như: ma suối, ma bản... Người Kháng thờ ma bố và có tục thờ ma mẹ. Việc cúng bố mẹ được tiến hành 3 năm một lần. Ðây là lễ vui nhất, gia đình thường mời anh em, bà con trong bản tới dự bữa cơm, sau đó xoè, múa thâu đêm.

Lễ tết: Người Kháng ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới và thực hiện các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp nương rẫy.

Văn nghệ: Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày. Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người Thái, thuộc nhiều tục ngữ ca dao.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_tai_hien_le_ta_on_cua_dan_toc_khang_6521105.jpeg
Tiết mục múa Tăng Bu của dân tộc Kháng tỉnh Điện Biên. Ảnh: Tuấn Đức - TTXVN

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Kháng

Có thể bạn quan tâm

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Đặc sắc Lễ hội kén rể Đường Yên

Ngày 20/3/2026, Lễ hội kén rể Đường Yên, xã Thư Lâm (thành phố Hà Nội), đã chính thức được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan

Sáng 20/3, Lễ đón nhận chứng nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Cao Lan đã diễn ra tại thôn Động Sơn, xã Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang). Sự kiện thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, thể hiện niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng.

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về An Giang, đắm mình trong hương vị bánh Kà tum

Về với vùng đất Bảy Núi An Giang, du khách không chỉ bị mê hoặc bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi những giá trị văn hóa ẩm thực độc bản. Trong đó, bánh Kà tum - món bánh truyền thống của đồng bào Khmer xã Ô Lâm (tỉnh An Giang), một biểu tượng của sự khéo léo, kết tinh từ hương vị đất trời và tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây.

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Vẻ đẹp thanh bình của chùa Tà Pạ giữa vùng Bảy Núi, An Giang

Nằm tựa lưng vào triền núi Tà Pạ thuộc xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, Chùa Tà Pạ là một trong những ngôi chùa Khmer tiêu biểu của vùng Bảy Núi, với kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Nam tông Khmer. Mái chùa cong vút, hoa văn chạm khắc tinh xảo và gam màu rực rỡ nổi bật giữa không gian núi rừng xanh mát. Không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của đồng bào Khmer, chùa Tà Pạ còn là điểm đến du lịch hấp dẫn ở Tri Tôn.

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Đồng bào các dân tộc nơi cực Tây Tổ quốc nô nức đến điểm bỏ phiếu

Xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên nằm giữa núi rừng trùng điệp của vùng đất nơi cực Tây của Tổ quốc, nổi tiếng với cột mốc ba cạnh thiêng liêng. Từ sáng sớm, đồng bào các dân tộc Hà Nhì, Mông, Thái, Kinh… trong trang phục truyền thống đã nô nức đến các điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Lần đầu công chúng Thủ đô được trải nghiệm hội Ví đu của người Mường Phú Thọ

Trong không khí mùa xuân tháng Ba, hội Ví đu truyền thống của người Mường tỉnh Phú Thọ lần đầu tiên được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), mang đến cho công chúng Thủ đô và du khách cơ hội khám phá một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo.

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Lễ hội Lồng Tồng - nét văn hóa đặc sắc của người Tày vùng cao Lào Cai

Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Đồng bào Cao Lan, Phú Thọ tưng bừng mở hội xuống đồng 2026

Trong khuôn khổ chương trình “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026, ngày 28/2, đồng bào dân tộc Cao Lan (Phú Thọ) đã tổ chức Lễ hội xuống đồng, hay còn gọi là Lễ hội Lồng tồng, một nghi lễ truyền thống mang đậm giá trị tâm linh và văn hóa lâu đời.

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Đắp chăn 'săn' cá suối: Nghi thức tâm linh đặc biệt của đồng bào Co

Lần đầu tiên, xã vùng cao Thanh Bồng (Quảng Ngãi) tái hiện phong tục Đắp chăn (hay còn gọi là Hoi P’hiết Xol) - một nghi thức đắp đập, ngăn dòng suối để bắt cá của đồng bào Co với quy mô lớn chưa từng có. Đây không chỉ là hoạt động lao động sản xuất đơn thuần mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, có sức ảnh hưởng to lớn trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người dân địa phương.

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa Chằn - vũ điệu sử thi độc đáo của người Khmer

Múa chằn, còn gọi là Rôbăm Yeak Roăm, là một hình thức sân khấu hóa dựa trên sử thi Riêm Kê, là một loại hình vũ kịch dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Khmer tại Nam Bộ. Không chỉ là giải trí, múa Chằn còn mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, cầu mong bình an và may mắn cho phum, sóc, thường được tổ chức tại các ngôi chùa Khmer vào các dịp lễ lớn.

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Chia sẻ yêu thương, hòa bình và đoàn kết trong tháng Ramadan

Những ngày Tết Bính Ngọ 2026, về làng Chăm ở xã Châu Phong (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), dọc hai bên đường rợp một màu đỏ tươi mới cờ Đảng, cờ Tổ quốc. Năm nay, Tết gần như trùng với lịch Tháng ăn chay Ramadan năm 2026 - Hồi lịch 1447 của đồng bào theo đạo Hồi Islam. Đây là thời điểm quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với mỗi tín đồ Hồi giáo và đời sống văn hóa tinh thần chung của cộng đồng.

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Hấp dẫn ẩm thực Xứ Lạng

Lạng Sơn, vùng đất địa đầu của Tổ quốc không chỉ nổi tiếng về sự nhộn nhịp, sầm uất trong kinh doanh thương mại, mà còn là nơi được biết đến với phong cảnh hùng vĩ, nên thơ và ẩm thực độc đáo.

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Giữ nếp Tết Mường giữa đại ngàn Tây Nguyên

Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với 602 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, vất vả, đến nay, đời sống của người dân tại đây đã dần ổn định, phát triển. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo trong ngày Tết Nguyên đán cổ truyền của người Mường luôn được bà con nhân dân thôn Hào Lý bảo tồn, giữ gìn, tạo nên một vẻ đẹp văn hóa đặc trưng trong những ngày Tết ở xã biên giới Sa Loong.

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Tết Ramưvan - Mùa báo hiếu và những cuộc đoàn viên

Hòa chung niềm vui đón Xuân mới Bính Ngọ 2026, trong ba ngày 16, 17 và 18/2, Tết cổ truyền Ramưvan của đồng bào Chăm Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam ở tỉnh Khánh Hòa cũng diễn ra đồng thời, tạo thêm không khí vui tươi, phấn khởi đón năm mới; qua đó cùng chung tay xây dựng quê hương, góp sức đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xuân nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc

Xã Đất Mũi là đơn vị hành chính cuối cùng ở cực Nam Tổ quốc, cách trung tâm tỉnh Cà Mau hơn 110 km. Người dân nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy hải sản. Mùa xuân ở vùng đất này không chỉ có sắc mai vàng mà còn mang theo hương vị mặn mòi của biển cả, mùi thơm của những mẻ cá khô và niềm hy vọng mãnh liệt về sự khởi sắc của quê hương.

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Ngọt ngào hương vị Tết miền Tây

Miền Tây miệt vườn từ lâu đã được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằng chịt, ruộng vườn bạt ngàn, sản vật phong phú. Ở đó, cư dân đã hình thành nên một không gian văn hóa đặc trưng, trong đó Tết Nguyên đán là một nét chấm phá thấm đẫm chất miền Tây sông nước.

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Giữ hồn Tết qua cặp bánh phu thê Đình Bảng

Những ngày cuối năm, khi gió bấc se sắt thổi, khi những mái ngói rêu phong quanh đền Đô trầm mặc trong làn sương mỏng, làng nghề bánh phu thê Đình Bảng (nay thuộc phường Từ Sơn, Bắc Ninh) lại bừng lên nhịp điệu riêng của mùa Xuân. Tết ở vùng đất Kinh Bắc không chỉ hiện diện trong sắc đào phai trước hiên nhà, trong không khí rộn ràng chợ Tết, mà còn lan tỏa từ những gian bếp đỏ lửa, nơi những mẻ bánh phu thê đang lặng lẽ tỏa hương.

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Làm mới thương hiệu bánh tráng Cù lao Mây trăm tuổi

Bánh tráng Cù lao Mây - một đặc sản nổi tiếng của làng nghề có lịch sử hơn 100 năm của xã Lục Sỹ Thành, tỉnh Vĩnh Long. Làng nghề truyền thống này hiện có 71 hộ sản xuất; trong đó, 14 hộ tham gia hợp tác xã với 2 hộ có sản phẩm đạt chứng nhận OCOP. Làng nghề hoạt động quanh năm nhưng nhộn nhịp nhất vào dịp Tết Nguyên đán.

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Đồng bào Khmer đón Tết với niềm vui được mùa, được giá

Dịp Tết Nguyên đán năm nay, nhiều hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đón Xuân mới trong niềm vui trúng mùa, được giá khi các mô hình sản xuất nông nghiệp phát huy hiệu quả, năng suất và giá bán đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Nghề dệt của người La Chí - Giá trị di sản trong đời sống cộng đồng

Giữa những bản làng vùng cao của xã Xuân Giang và xã Bản Máy, nơi cộng đồng người La Chí sinh sống lâu đời, nghề dệt truyền thống vẫn được duy trì như một phần tất yếu của đời sống văn hóa. Không ồn ào, không phô trương, nghề dệt tồn tại bền bỉ qua nhiều thế hệ, gắn với quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức và bản sắc tộc người.

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Đồng bào Dao giữ gìn nét đẹp văn hóa đón Tết truyền thống

Tết của người Dao ở phường Thống Nhất, tỉnh Phú Thọ thường diễn ra vào đầu tháng 12 âm lịch kéo dài đến Tết Nguyên đán với nét đẹp văn hóa dân gian độc đáo và giàu bản sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục tập quán được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Đồng bào Bahnar hân hoan đón nhà Rông mới

Chiều 31/1, UBND xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Lễ khánh thành nhà Rông văn hóa thôn Kon Rơ Bang 2. Đây là hoạt động nhằm bảo tồn nét văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số Bahnar, bà con có nhà Rông mới để tổ chức lễ hội cùng các hoạt động chung của làng.