Vài nét về văn hóa và phong tục của người Kháng

Vài nét về văn hóa và phong tục của người Kháng
Người Kháng còn có tên gọi khác, đó là Xá Khao, Xá Xú, Xá Đơn, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá A Ỏ, Xá Bung, Quảng Lâm. Tuy nhiên, tên gọi chính thức của nhà nước ta đối với cộng đồng này là dân tộc Kháng – một trong 54 dân tộc của Việt Nam.
Người Kháng nói tiếng Kháng, là ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Khơ Mú, của ngữ tộc Môn-Khmer. Ngôn ngữ của họ khá giống với tiếng Xinh Mun, hay còn gọi là tiếng Puộc.

Ở nước ta, người Kháng cư trú chủ yếu ở Sơn La, Lai Châu và Điện Biên. Theo tổng điều tra dân số năm 1999, người Kháng có 10.272 người. Mười năm sau, 2009, lên tới 13.840 người. Tỷ lệ tăng như thế là vừa phải trong chủ trương kế hoạch hóa gia đình của nước ta. Nói Điện Biên, Sơn La, Lai Châu là địa bàn cư trú gốc của người Kháng, còn ngày nay, họ đã phân bố ở 25 tỉnh và thành phố do nhu cầu đời sống riêng tư, công việc làm ăn và công tác được phân công. Người Kháng còn cư trú ở bên Lào, các tỉnh sát biên giới, gần cận với các địa bàn gốc của họ tại Điện Biên, Sơn La, Lai Châu. Tại đây, họ cũng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Phong-Kniang, Pong 3, Khaniang, Keniang, Lao Phong, với dân số khoảng 1.000 người.
 
Trang phục của thiếu nữ dân tộc Kháng.
Trang phục của thiếu nữ dân tộc Kháng.

Kinh tế chủ yếu của người Kháng là làm rẫy theo lối chọc lỗ tra hạt. Đây là phương thức làm nông nghiệp nương rẫy cổ xưa nhất có từ thời văn hóa Đông Sơn mà những dấu ấn của tục thờ thần Mặt trời, quan niệm về vũ trụ thông qua các bước chuyển động của người nông dân khi chọc lỗ tra hạt từ các nương rẫy đã toát lộ quan niệm ấy – điều mà tôi đã giới thiệu về người Mãng Ư, có lối canh tác tương đồng, cũng trong tạp chí này cách đây không lâu. Ngoài lối canh tác ấy, người Kháng còn làm ruộng nước theo phương thức cày bừa, gieo cấy trên các thửa ruộng bậc thang hẹp, nhưng không phổ biến. Người Kháng cũng chăn nuôi gia súc và gia cầm (gà, lợn, trâu) và họ cũng làm đồ đan lát (ghế, rổ, rá, nia, hòm, gùi), làm mộc (thuyền độc mộc kiểu đuôi én) được người Thái ưa dùng. Đó là những công việc nông nhàn, phục vụ cho đời sống tự túc, tự cấp trong các bản làng của họ. Nếu có chăng, không phải là tự túc, tự cấp thì thương mại của họ cũng là hàng đổi hàng. Họ trồng bông rồi đem bông đổi lấy vải và đồ dệt của người Thái – một dân tộc cư trú liền kề, có truyền thống về dệt thổ cẩm và làm chăn đệm bông (Phà Thái). Họ cũng đổi thuyền đuôi én cho người Thái để lấy những nông thổ sản của dân tộc này phục vụ cho đời sống thường nhật.

Ma chay của người Kháng cũng giống như nhiều dân tộc khác ở miền núi phía Tây Bắc nước ta, được biểu hiện rất rõ qua phong tục chôn cất. Người chết được chôn cất chu đáo, có nấm mộ và giỏ cơm, ống hút rượu, bát, đũa… Phía đầu mộ chôn cột cao 4 -5 mét, trên đỉnh có con chim gỗ, có treo chiếc áo của vợ hay chồng người chết.

Người Kháng có quan niệm mỗi con người có 5 hồn, hồn chính trên đầu và 4 hồn kia ở tứ chi. Khi chết, mỗi người biến thành “ma ngắt”, ngụ ở 5 nơi. Hồn chủ thành ma ở nhà, chỗ thờ tổ tiên là “ma ngắt nhá”, hồn tay phải trên thiên đàng là “ma ngắt kỷ”, hồn tay trái ở gốc cây làm quan tài là “ma ngắt hóm”, hồn chân phải ở nhà mồ là “ma ngắt môn”, hồn chân trái lên trời thành ma trời là “ma ngắt xừ rè”.
 
Nhà ở của người Kháng ở Sơn La.
Nhà ở của người Kháng ở Sơn La.

Quan niệm này của người Kháng xuất phát từ một tín ngưỡng rất xa xưa của nhiều dân tộc cư trú ở miền núi Đông Dương. Việc làm nhà mồ, chăm sóc người chết, giữ và bỏ mả, trồng cột gỗ (hoặc đá) tưởng niệm, hồn và vía ở đầu và tứ chi… là một chuỗi quan niệm của cư dân cổ xưa vùng núi bán đảo Đông Dương và xa hơn nữa. Quan niệm này có liên quan tới tín ngưỡng cự thạch (đá lớn) và tàn dư của tín ngưỡng ấy còn thấy ở nhiều dân tộc, trong đó, người Mường là đậm đặc hơn cả. Trên các hòn mồ bằng đá được trồng quanh các huyệt mộ ở các khu mộ ở nghĩa địa dòng họ quan lang Mường Hòa Bình, người ta còn thấy nhiều minh văn, bằng chữ Hán, trên đó nói rõ thân phận chủ nhân mộ, ngày tháng sinh và mất…, có niên đại cuối thế kỷ 17.

Hiện tượng ấy giống như bia mộ của người Kinh, nhưng từ trong sâu thẳm của tư duy tín ngưỡng Mường, những cột đá ấy là nơi trú ngụ của linh hồn. Và đá là nơi cư trú của linh hồn là một trong những tiêu chí tạo nên phức hợp của tín ngưỡng cự thạch. Thế nhưng tín ngưỡng thờ đá là khá phổ biến, trong đó có ở người Việt, song, việc dựng cột đá để tưởng niệm lại được nhiều người cho là của dân tộc Thái – những nhóm cư dân sống liền kề với người Mường, Kháng. Tiếp biến văn hóa từ người Thái (dựng cự thạch) và với  người Kinh (làm bia mộ), cùng với sự tiếp nối truyền thống thờ đá của người Việt cổ, đã tạo nên bản sắc tang ma Mường. Bản sắc ấy na ná với người Kháng qua những miêu tả trực quan và điều tra hồi cố nêu trên.
 
Độc đáo Lễ mừng cơm mới của dân tộc Kháng.
Độc đáo Lễ mừng cơm mới của dân tộc Kháng.

Trở lại với văn hóa vật thể của người Kháng qua ngôi nhà sàn của họ. Nhà người Kháng có 3 gian, 2 chái. Mái nhà sàn của người Kháng cũng tương tự như của người Mường, Thái Đen, có hình mu rùa, với 2 cửa ra vào ở hai đầu nhà, 2 cửa sổ ở 2 vách bên. Mỗi nhà có hai bếp lửa – một để nấu ăn hàng ngày và một để nấu đồ cúng tế khi bố mẹ, ông bà mất.

Cũng giống như nhiều dân tộc khác, ngày nay, trong đời sống vật chất và tinh thần của người Kháng, kể từ hôn nhân, cưới xin, ma chay, ăn mặc và nhà ở của người Kháng, đã có nhiều đổi thay với những đan xen và tiếp biến văn hóa với nhiều dân tộc khác. Đặc biệt với thời đại của truyền thông, giao thông đi lại thuận tiện hơn, sự đan xen, tiếp biến ấy còn đi xa hơn giới hạn vùng, tới cả đất nước và trên thế giới, do vậy, những nét văn hóa truyền thống văn hóa của người Kháng nói riêng và của nhiều dân tộc khác nói chung cũng đã bị phôi pha, dần mai một.
 
Theo thegioidisan.vn
Dân tộc Kháng

Tên tự gọi: Mơ Kháng.

Tên gọi khác: Háng, Brển, Xá.

Nhóm địa phương: Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bư Háng, Ma Háng Bẻng, Bư Háng Cọi...

Dân số: 13.840 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Họ nói thạo tiếng Thái.

Lịch sử: Người Kháng là một trong số các dân tộc cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc nước ta.

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo với cách thức phát đốt, chọc lỗ tra hạt. Có thể phân thành 3 nhóm:

Nhóm sống du canh du cư: làm rẫy.

Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng.

Nhóm định canh định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy. Tập quán trồng lúa nếp kết hợp trồng ngô, sắn, vừng... Chăn nuôi khá phát triển: lợn, gà, vịt, trâu, bò. Nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mây, gùi...) Người Kháng giỏi đóng và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én. Thuyền của họ đóng được các dân tộc anh em ưa mua dùng.

Ăn: Người Kháng thích ăn xôi và các món có vị chua, cay như: cá ướp chua, dưa lá củ ráy ngứa, món hỗn hợp gồm lá lốt, thịt, ớt, tỏi, rau thơm hoà trộn, đồ chín. Tục uống bằng mũi (tu mui) là nét văn hóa độc đáo của họ. Người Kháng quen uống rượu trắng, rượu cần, hút thuốc lá và hút thuốc lào.

Mặc: Người Kháng ăn mặc giống người Thái.

: Nhà ở có 2 dạng: nhà tạm bợ và nhà kiên cố. Nhà sàn gồm 1 mái và 2 mái, không phủ nóc, không có chái, có cửa chính thông suốt từ đầu này sang đầu kia, thông với cầu thang nên xuống.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán, thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Nằm trong sự quản lý của các mường Thái trước đây, Người Kháng không có tổ chức xã hội riêng. Chức dịch cao nhất trong bản là: quan cai gần như Tạo bản người Thái. Trong các bản người Kháng đã có sự phân hoá giàu nghèo.

Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản. Bên cạnh đó cũng tồn tại một số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, vai trò ông cậu... Trưởng họ vẫn có vai trò nhất định.

Cưới xin: Ngày xưa, việc lấy vợ, lấy chồng của người Kháng vừa tự do vừa phải qua nhiều nghi thức. Sau bốn năm đêm tìm hiểu ngủ lại nhà người con gái, nếu đôi trai gái ưng ý nhau thì tiến hành ăn hỏi và rất nhiều nghi thức mà đôi trẻ và hai bên nhà trai nhà gái phải thực hiện. Sau 3 năm ở rể, đôi vợ chồng trẻ phải làm lễ ra mắt hai họ, nhà trai mới tổ chức đón dâu. Ðây là lễ quan trọng nhất.

Ma chay: Người Kháng có tục chia của cho người chết gồm: chăn, đệm, dao, bát, đĩa, hòm đựng quần áo, ống nước, giỏ xôi... và những gì khi còn sống người quá cố thường dùng. Tất cả những lễ vật này được đặt phía trên đầu mộ. ở phía đầu mộ còn chôn một cái cột cao, trên đó buộc treo một hình con chim bằng gỗ và một cái áo mà người chết thường mặc. Sau khi chôn xong, về đến nhà, anh em, bà con phải đứng dưới gầm sàn để ông cậu cắt một nhúm tóc bỏ vào bát nước lã đựng trứng, cá sấy khô rồi đem vứt ở vệ đường vào bãi tha ma để hồn người chết không về quấy rối con cháu, người thân.

Thờ cúng: Họ tin rằng con người có 5 hồn. Một hồn chính ở trên đầu bốn hồn ở tứ chi. Khi chết, hồn chính biến thành ma lành phù hộ con cháu, bốn hồn còn lại biến thành ma dữ hay quấy nhiễu vòi "ăn". Người ta còn tin nhiều loại ma khác như: ma suối, ma bản... Người Kháng thờ ma bố và có tục thờ ma mẹ. Việc cúng bố mẹ được tiến hành 3 năm một lần. Ðây là lễ vui nhất, gia đình thường mời anh em, bà con trong bản tới dự bữa cơm, sau đó xoè, múa thâu đêm.

Lễ tết: Người Kháng ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới và thực hiện các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp nương rẫy.

Văn nghệ: Những làn điệu dân ca của người Kháng thường phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày. Nhiều người biết hát các bài hát, áng thơ của người Thái, thuộc nhiều tục ngữ ca dao.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_tai_hien_le_ta_on_cua_dan_toc_khang_6521105.jpeg
Tiết mục múa Tăng Bu của dân tộc Kháng tỉnh Điện Biên. Ảnh: Tuấn Đức - TTXVN

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Kháng

Có thể bạn quan tâm

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Người thầy nặng lòng với nghệ thuật Xòe Thái

Nhiều năm gắn bó với nghệ thuật múa, Thạc sĩ Hà Trung, Phó Trưởng khoa Văn hóa Nghệ thuật, Trường Cao đẳng Lào Cai luôn dành tâm huyết nghiên cứu, giảng dạy và truyền dạy nghệ thuật Xòe Thái. Với anh, mỗi điệu xòe là một hình thức biểu diễn nghệ thuật, chứa đựng những giá trị văn hóa được cộng đồng người Thái lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Gìn giữ nghề dệt truyền thống của người Lự

Giữa nhịp sống phát triển của xã hội hiện nay, nhiều nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang dần bị mai một. Thế nhưng tại xã Khun Há tỉnh Lai Châu, những người phụ nữ dân tộc Lự vẫn miệt mài bên khung cửi, gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống, đồng thời từng bước đưa thổ cẩm trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Nhà sàn người Thái ở thung lũng Bình Chuẩn

Ẩn mình giữa thung lũng heo hút, biệt lập của xã Bình Chuẩn (tỉnh Nghệ An), nơi bốn bề được bao bọc bởi những dãy núi điệp trùng và cách trở bởi hai con dốc Bù Lìu, Pù Huột quanh co hiểm trở, những ngôi nhà sàn cổ của đồng bào Thái vẫn giữ được dáng vẻ nguyên sơ, lặng lẽ và tồn tại bền bỉ qua bao thế hệ. Không chỉ là nơi cư ngụ của người dân, những ngôi nhà cổ ở các bản Xiềng, Đình, Quăn, Mét… còn là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống, phản ánh tinh hoa kiến trúc và đời sống tinh thần đặc sắc của người Thái nơi miền sơn cước xứ Nghệ.

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Cảnh sát biển lan tỏa nghĩa tình quân dân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo

Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bệnh viện Quân y 4, Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 4, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các nhà hảo tâm tổ chức Chương trình công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo” với nhiều hoạt động thiết thực.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng ‘thế trận lòng dân’ vững chắc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ nhân dân, từ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Trải nghiệm nghề truyền thống chạm bạc ở Cao Bồ

Từ lâu, bạc không chỉ là vật trang sức đối với người Dao ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc. Những vòng cổ, vòng tay, khuyên tai… không đơn thuần để làm đẹp, mà còn gắn với các nghi lễ, phong tục, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Đồng bào dân tộc Thái giữ lửa văn hóa từ trò chơi dân gian “tó mặng”

Giữa không gian núi rừng miền Tây Nghệ An, khi mùa vụ tạm khép lại, tiếng cười nói lại rộn ràng trên những bãi đất trống. Ở đó, trò chơi dân gian Tó mặng - bắn hạt mặng bằng ngón tay, ngón chân trúng đến điểm đích không chỉ mang đến niềm vui mà còn là sợi dây kết nối cộng đồng, lưu giữ bản sắc văn hóa của đồng bào Thái qua bao thế hệ.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Lễ cúng hồn trâu của người Lự gìn giữ nét văn hóa nông nghiệp

Tại xã Nậm Tăm (tỉnh Lai Châu), nơi cộng đồng người Lự với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống, đời sống văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đậm nét qua nhiều phong tục, tín ngưỡng và lễ hội đặc sắc. Nổi bật trong đó là Lễ Sú Khon Khoài (cúng hồn trâu) – một nghi lễ nông nghiệp mang ý nghĩa tri ân và cầu mùa, thường được tổ chức sau mùa vụ.

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

80 năm công tác dân tộc: Nền tảng vững bền khối đại đoàn kết

​Ngày 24/4, nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác Dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), thành phố Hà Nội đã trang trọng tổ chức kỷ niệm, nhìn lại chặng đường hình thành, phát triển và những đóng góp của ngành đối với sự phát triển chung của Thủ đô.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Đồng bào 54 dân tộc báo công dâng Bác, lan tỏa sức mạnh đại đoàn kết

Sáng 18/4, tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu gồm già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu đại diện cho 54 dân tộc anh em đã trang nghiêm tổ chức lễ báo công dâng Bác. Hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4).

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Nghi lễ tạ ơn rừng - phát huy giá trị văn hóa gắn với du lịch sinh thái

Ngày 5/4, Ủy ban nhân dân xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng) tổ chức Lễ hội khai năm tạ ơn rừng. Đây là một nghi lễ cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số Cơ Tu nơi đây, mang ý nghĩa tri ân núi rừng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống bình yên và no ấm cho dân làng.

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Tưng bừng Lễ hội Tết Té nước của người Lào ở Núa Ngam

Những ngày đầu tháng 4, không khí lễ hội rộn ràng lan tỏa khắp xã Núa Ngam (Điện Biên) khi Lễ hội Tết Té nước (Bun Huột Nặm) diễn ra tưng bừng, cuốn hút đông đảo người dân và du khách. Từ những nghi thức truyền thống trang nghiêm đến màn té nước sôi động, tất cả hòa quyện tạo nên không gian văn hóa đa sắc màu, gắn kết cộng đồng và lan tỏa những lời chúc tốt lành.

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Phục dựng Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng

Tối 3/4, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc S’tiêng được Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (tỉnh Đồng Nai) tổ chức phục dựng tại Sóc Tà Cuông (thôn 3). Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương đến tham dự, giao lưu với các câu lạc bộ văn hóa cồng chiêng.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Ngôi chùa Nam tông Khmer màu hồng độc đáo

Nằm tại xã Tri Tôn, tỉnh An Giang, chùa Krăng Krốch (còn gọi là chùa Hàng Còng) là ngôi chùa Nam tông Khmer hơn 100 năm tuổi, gắn bó với đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi.

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông ở Lai Châu

Chiều 28/3/2026, tại bản Lao Chải I, xã Khun Há tỉnh Lai Châu diễn ra cuộc thi giã bánh giầy của đồng bào dân tộc Mông. Tham gia cuộc thi có 13 đội đến từ 13 bản của xã, thời gian tối đa cuộc thi là 120 phút. Với người Mông, bánh giầy không chỉ là món ăn quen thuộc mà còn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh, đặc biệt mỗi dịp Tết đến, xuân về.