Nép mình nơi ngã ba sông ở đầu nguồn châu thổ Cửu Long, nơi dòng nước mát lành của sông Hậu và sông Châu Đốc cùng in bóng những thánh đường Hồi giáo cổ kính hòa quyện tiếng đọc kinh Quan âm vang như nhịp đập của xóm người Chăm, nghề dệt thổ cẩm truyền thống theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang đã và đang được hồi sinh mạnh mẽ dưới đôi tay của những người phụ nữ xóm Chăm ở ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Không chỉ truyền lửa đam mê từ thế hệ này sang thế hệ khác, các nghệ nhân nơi đây còn biến khung cửi thô sơ thành cầu nối gìn giữ bản sắc văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho địa phương.
Thổ cẩm "kể chuyện" nơi ngã ba sông
Về ấp Phũm Soài (xã Châu Phong, tỉnh An Giang) du khách dễ dàng bị cuốn hút bởi hình ảnh những khung cửi dựng san sát bên hiên nhà sàn, nơi các nghệ nhân người Chăm theo đạo Hồi giáo Islam miệt mài đưa thoi, dệt nên những hoa văn đặc trưng mang giá trị văn hóa sâu sắc, gắn bó chặt chẽ với đời sống tín ngưỡng và cộng đồng Hồi giáo Islam ở vùng đầu nguồn châu thổ Cửu Long. Mỗi tấm vải là câu chuyện, lát cắt văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, được truyền từ đời này sang đời khác.
Bà Sala Mah, ngụ ấp Phũm Soài (xã Châu Phong) cho biết, 15 tuổi bà đã dệt được những tấm vải đầu tiên, học từ mẹ và bà. Ngày xưa, mỗi thiếu nữ Chăm biết dệt là một niềm tự hào. Từ nghề dệt, mình có thể làm những chiếc khăn mat’ra, quần áo, rà rông, túi xách,… Còn bây giờ, nghề dệt còn phục vụ du lịch, nhờ vậy mà giữ được nghề truyền thống và có thêm thu nhập để cải thiện cuộc sống gia đình.
Theo bà Sala Mah, thổ cẩm Chăm An Giang với những họa tiết vân mây mềm mại duyên dáng, sóng nước, ô vuông, bông dâu hay kẻ sọc trên tấm vải không chỉ đẹp mắt mà còn phản ánh sinh động thiên nhiên, tôn giáo và lịch sử hình thành, phát triển của đồng bào dân tộc Chăm theo đạo Hồi giáo Islam ở vùng đất An Giang.
Để làm ra sản phẩm thổ cẩm truyền thống của người Chăm ở Châu Phong phải trải qua 6 công đoạn chính, từ việc có sợi thô rồi ngâm nước qua đêm cho mềm; sau đó đem sợi đi nhuộm màu, rồi phơi khô; tiếp đến đánh ra con suốt; đến công đoạn làm canh dọc - công đoạn khó nhất trong dệt, đòi hỏi người thợ phải nắm chắc kỹ thuật như sắp bao nhiêu sợi, màu sắc bao nhiêu, khổ bao nhiêu, chiều dài bao nhiêu. Phải mất khoảng ba ngày chỉ để xỏ go một khung dệt; sau đó thợ sẽ dệt xen kẽ go nền với go hoa văn để tạo nên sản phẩm bền màu, càng dùng càng bóng đẹp.
Ông Mohamad, Chủ cơ sở dệt thổ cẩm Mohamach (ấp Phũm Soài, xã Châu Phong) chia sẻ, nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở Châu Phong ra đời từ khoảng những năm đầu của thế kỷ XIX với cả trăm hộ dân tham gia. Thời hoàng kim, mỗi nhà thường có vài khung dệt, không khí vô cùng náo nhiệt. Các sản phẩm làm ra không chỉ bán trong nước mà còn xuất sang Campuchia, Thái Lan, Malaysia.
Để làm ra một tấm thổ cẩm hoàn chỉnh, những người phụ nữ Chăm ở xã Châu Phong (tỉnh An Giang) phải thực hiện qua nhiều công đoạn khác nhau để hình thành một sản phẩm vải thổ cẩm chất lượng với sắc màu đa dạng.
Ngày nay, cùng với nhịp sống hiện đại và sự cạnh tranh của hàng công nghiệp giá rẻ khiến nghề mai một, nhiều hộ đành bỏ nghề, tìm sinh kế khác. Nhưng nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm ở xã Châu Phong vẫn được giữ gìn và phát triển bởi những người nặng lòng với giá trị truyền thống.
Theo ông Mohamad, người Chăm gắn bó với nghề dệt thổ cẩm để không quên phong tục từ thời xưa, để làm những chiếc khăn mat’ra, quần áo, rà rông, túi xách… Khi du khách đến, họ thích các loại túi nhỏ, túi lớn, khăn,… rồi mua về làm quà. Mình vừa có thêm thu nhập để nuôi sống gia đình và để giữ nghề.
“Mỗi sản phẩm thổ cẩm không chỉ là món quà lưu niệm mà còn là cầu nối giữa du khách và văn hóa bản địa, là biểu tượng cho sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển”- ông Mohamad nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, nghề dệt còn tạo sinh kế cho lao động của địa phương, chủ yếu phụ nữ, với thu nhập trung bình từ 150.000-200.000 đồng/ngày, góp phần giảm nghèo và củng cố sự gắn kết cộng đồng.
Không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ nghề truyền thống, năm 2024, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, ông Mohamad thành lập Tổ hợp tác du lịch cộng đồng làng Chăm Châu Phong với 12 thành viên ban đầu, do ông làm Tổ trưởng, nhằm gắn kết cộng đồng, phát triển sản phẩm du lịch (như dệt thổ cẩm, ẩm thực, trống Rappana), bảo tồn văn hóa Chăm và phát triển kinh tế.
Đến nay, Tổ hợp tác du lịch cộng đồng làng Chăm Châu Phong kết hợp nhiều hoạt động, như thăm thánh đường Hồi giáo, khám phá nhà cổ, thưởng thức ẩm thực đặc sắc (cà ri bò, tung lò mò, bánh bò nướng,..) và học đánh trống Rappana. Nhờ đó làng nghề biến thành không gian văn hóa sống động.
Gắn nghề dệt với phát triển du lịch
Khi đến với làng Chăm Châu Phong, du khách không chỉ được đắm mình trong miền cổ tích với những tòa thánh đường Hồi giáo uy nghi, lộng lẫy mà còn được xem, trải nghiệm thực tế các bước xe sợi đến dệt hoa văn trên những tấm thổ cẩm đầy màu sắc; hay thưởng thức những món ẩm thực đặc sắc (cà ri bò, tung lò mò, bánh bò nướng,…) và học đánh trống Rappana - nhạc cụ truyền thống của đồng bào Chăm An Giang.
Ông Bruce William - du khách Canada cho biết, cơ sở dệt thổ cẩm Mohamach (ấp Phũm Soài, xã Châu Phong) là điểm đến quen thuộc của gia đình ông và bạn bè mỗi lần đến An Giang.
“Được trực tiếp xem và trải nghiệm quá trình dệt nên những tấm thổ cẩm đầy màu sắc của người dân tộc Chăm ở Châu Phong là điều rất thú vị. Từ những sợi tơ đơn giản, dưới sự hướng dẫn của những người phụ nữ nơi đây, chúng tôi có thể tự tay dệt tấm vải nhỏ, mang về làm quà lưu niệm, làm kỷ niệm trong hành trình khám phá vùng đất An Giang của Việt Nam”- ông Bruce William chia sẻ.
Ông Mohamad, Chủ cơ sở dệt thổ cẩm Mohamach (ấp Phũm Soài, xã Châu Phong) cho biết thêm, các sản phẩm chủ yếu của cơ sở là khăn rằn dệt họa tiết vân mây, loại họa tiết đặc biệt chỉ có ở đây và được khách hàng nhiều nơi ưa chuộng. Cơ sở của ông thường sản xuất theo đơn đặt hàng của Việt kiều và xuất đi Đức, Pháp, Australia...
Hiện cơ sở dệt của ông Mohamad có khoảng 18 nhân công, mỗi nhân công có thể dệt từ 3-4 tấm khăn/ngày, giá bán trung bình khoảng 70.000 đồng/khăn rằn và 150.000 đồng/khăn họa tiết vân mây, mang lại thu nhập ổn định từ 4-6 triệu đồng/lao động/tháng.
Thời gian tới, ông Mohamad sẽ tiếp tục đầu tư, mở rộng cơ sở dệt thổ cẩm, vừa để phục vụ khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm, vừa đa dạng hóa các sản phẩm, tạo việc làm ổn định cho phụ nữ Chăm, góp phần giữ nghề truyền thống và lan tỏa những giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam ra thế giới.
“Ngày nay, chúng tôi không chỉ phụ thuộc vào du khách đến tận nơi, mà các sản phẩm thổ cẩm của làng Chăm Châu Phong đã được đưa lên mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để bán hàng trực tiếp. Người mua yêu thích thì đặt hàng, chúng tôi làm rồi gửi qua đường bưu điện…” - ông Mohamad nhấn mạnh.
Không chỉ giữ nghề, làng chăm Châu Phong còn là điểm đến văn hóa-du lịch giàu bản sắc. Tỉnh An Giang đã và đang phối hợp xây dựng nơi đây trở thành mô hình du lịch cộng đồng tiêu biểu, góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào.
Ông Nguyễn Văn Hợp, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Phong cho biết, để bảo tồn, phát triển nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Chăm ở Châu Phong, thời gian qua, địa phương và tỉnh An Giang luôn quan tâm đến công tác truyền dạy nghề này cho thế hệ trẻ kế cận; đồng thời hỗ trợ, đào tạo kỹ năng làm du lịch cho người dân cũng như xúc tiến quảng bá sản phẩm thổ cẩm ra thị trường, hướng đến phát triển làng nghề theo hướng bền vững.
Đặc biệt, ngày 6/3/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận nghề dệt thổ cẩm của người Chăm xã Châu Phong là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đây là niềm tự hào không chỉ của riêng đồng bào Chăm theo đạo Hồi giáo Islam ở An Giang mà của cả tỉnh An Giang, tạo tiền đề giúp chính quyền địa phương và bà con nơi đây cùng nâng cao nhận thức trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc mình.
Nhìn về tương lai gần, với sự chung tay của chính quyền địa phương và sự chủ động, đoàn kết, sáng tạo của chính cộng đồng, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm ở Châu Phong chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển và trở thành điểm đến quen thuộc của du khách gần xa./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn