100 năm Ngày sinh nhà thơ Vũ Cao (18/2/1922-18/2/2022): Một đời thơ, đời người trọn vẹn

100 năm Ngày sinh nhà thơ Vũ Cao (18/2/1922-18/2/2022): Một đời thơ, đời người trọn vẹn

Sinh thời, nhà thơ Vũ Cao đã viết hết sức giản dị và chân thành những quan điểm của mình về văn chương: "những gì tôi viết ra là rút từ cuộc sống của bộ đội, của nhân dân, từ cuộc sống để trở lại cuộc sống”. Ông đã sống trọn vẹn một cuộc đời khiêm nhường và cống hiến hết mình cho thi ca, cho nhân dân, cho đất nước. Trong đó, bài thơ “Núi Đôi” của ông đã trở thành một biểu tượng đẹp, hào hùng và vĩnh hằng của nền thơ ca cách mạng Việt Nam.

Những vần thơ nhẹ nhàng, sâu lắng

Nhà thơ Vũ Cao sinh ngày 18/2/1922 tại Nam Định. Ông nhập ngũ năm 1946 và gắn liền cuộc đời binh nghiệp của mình với báo chí quân đội, từ Báo Quân đội nhân dân đến Tạp chí Văn nghệ quân đội, từ công việc của một phóng viên đến chức trách của một tổng biên tập.

Khi xuất ngũ, ông làm Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thơ (Hội Nhà văn Việt Nam). Nhưng với Vũ Cao, các chức trách phải gánh hình như không làm ông bận tâm. Điều ông muốn là được sống thật lòng mình với đời, với người.

Thơ đến với ông những khi cảm xúc được chắt lọc và thăng hoa, ông muốn trải lòng mình với con người và cảnh vật trong những vần thơ nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu và tình cảm. Vũ Cao viết không nhiều, nhưng hầu hết tác phẩm của ông viết về đề tài chiến tranh - đề tài gần gũi, gắn bó với ông gần hết cuộc đời, trong tư cách một người lính.

Thơ Vũ Cao thì giản dị, thâm trầm, nhẹ nhàng và rất quê, những nét bình thường trong hiện thực kháng chiến thời chống thực dân Pháp được Vũ Cao ghi lại bằng những câu thơ có dư vị: “Nghe tin bộ đội chờ đò/ Bờ sông, con máng tiếng hò dân công/ Lại nghe sông gió bập bùng/ Vẫn nghe tiếng súng bên vùng Vĩnh Yên/ Quán khuya thức giấc lên đèn/ Chờ tin, cánh liếp ngoài hiên hé chờ” (Ánh đuốc).

Một triết lý, với cách nghĩ của Vũ Cao, không có gì giản dị hơn, thiết thực hơn: “Ta đã từng đói no/ Nên quý từng hạt gạo/ Ta chịu rét nhiều lần/ Nên thương từng manh áo” (Ghi trên đường đi). Dưới con mắt Vũ Cao, Người gác cầu (kháng chiến chống Mỹ) có một cảm nhận thật tinh tế, đằm thắm: “Những chiếc xe từ bắc đi về xuôi/ Tiếng máy gọi nhau như thể tiếng người/ Khẩu pháo rẽ nghiêng, nòng còn ngoảnh lại/ Như cánh tay chào tạm biệt sông trôi…”.

 “Núi đôi” - bản tình ca đọng mãi

Nhắc đến Vũ Cao là nhắc tới “Núi Đôi” (sáng tác năm 1955) - một trong những bài thơ hay nhất viết về kháng chiến. Có khi người ta say sưa với “Núi Đôi” mà quên đi tác giả. Đó cũng là hạnh phúc của nhà thơ.

Bài thơ kể về một câu chuyện tình yêu giữa anh bộ đội ra chiến trường và cô du kích vùng địch hậu trong kháng chiến chống thực dân Pháp ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Nơi đây có hai ngọn núi nằm cạnh nhau như núi vợ núi chồng, như chứng tích về một tình yêu đã đi vào huyền thoại thơ ca và lịch sử. Hơn nửa thế kỷ nay, bài thơ được in đi in lại hàng trăm lần; đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường; được dịch ra nhiều thứ tiếng và chuyển thể thành phim.

Suốt bài thơ, người con trai gọi “em” xưng “anh” như đang nói với người con gái ở quê hương:

Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục – Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới bữa anh sang

Tình yêu của họ không biết bắt đầu từ bao giờ, nhưng nó gắn bó với cánh đồng, với đồi núi của làng quê Xuân Dục – Đoài Đông.

Có những lần, khi đùa người con gái đã nghĩ đến hạnh phúc trăm năm:

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi Chồng, núi Vợ đứng song đôi

Tình yêu của họ gắn với tình yêu đất nước, quê hương. Cuối một mùa chiêm quân giặc đến, người con trai ra trận. Ngày ngừng bắn anh trở về thăm quê hương thì được tin người con gái đã ngã xuống bên mảnh đất này. Vũ Cao đã viết nên một bài thơ tình cảm động và sâu lắng, có mất mát đau thương nhưng không bi lụy của đôi lứa biết yêu nhau và yêu nước, biết quên mình vì nhau và vì nước.

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng
Anh đi bộ đội, sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm

Có lẽ chưa nhà thơ kháng chiến nào viết được bài thơ về liệt sĩ, về đồng đội, về người yêu và về người đồng chí chân tình đến thế, thiết tha đến thế. Cũng chưa ai gọi: em, đồng chí mà người nghe cảm thấy ngọt lành như Vũ Cao đã gọi trong bài thơ mình. Cái tình thật, không tô vẽ là những gì nhà thơ Vũ Cao mang ra đối đãi suốt cuộc đời làm văn nghệ của mình như ông từng tâm sự: “Người viết còn phải có trách nhiệm với câu chữ của mình và cần nhất là sự giản dị, trong sáng. Người viết cần có phong cách riêng, tính cách riêng, nhưng theo tôi không được tách ra khỏi cuộc sống nhân dân”.

Vũ Cao không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng với bài thơ tình yêu trong chiến tranh bất hủ, ông còn là cây bút văn xuôi chân chất, nhẹ nhàng và không ít hóm hỉnh đối với cả người đọc lớn tuổi và trẻ em, nổi bật là những tác phẩm: “Truyện một người bị bắt”, “Những người cùng làng”, “Em bé bên bờ sông Lai Vu”, “Anh em anh chàng Lược”, “Từ một trận địa”, "Một đoạn thơ sông Đà" ... Trong đó, “Một đoạn thơ sông Đà” viết năm 1965 là một truyện ngắn hay nhất của ông, đồng thời cũng là một trong không nhiều truyện ngắn viết về chiến tranh với một phong cách trữ tình, giàu chất thơ nhất. Với các tập “Đèo trúc”, “Núi Đôi”, “Từ một trận địa”… nhà thơ Vũ Cao đã được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Ngày 3/12/2007, nhà thơ Vũ Cao đã vào cõi vô cùng nhưng thơ thay ông ở lại với đời, kể tiếp câu chuyện tình “Núi Đôi” và gửi đến những đôi lứa ngày sau tấm lòng thơ yêu người của ông.

Diệp Ninh (tổng hợp)

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Thôn Bằng Cả, xã Quảng La là nơi có trên 97% dân số là đồng bào Dao Thanh Y. Cộng đồng nơi đây được hình thành từ khoảng 300 năm trước và đến nay vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa đặc sắc.

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Trải dài từ những dấu tích văn hóa hàng nghìn năm trước đến các căn cứ cách mạng ghi dấu những thời khắc lịch sử của dân tộc, hệ thống di tích ở Tây Ninh đang được bảo tồn, phát huy giá trị, góp phần gìn giữ, lan tỏa bản sắc văn hóa địa phương; đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Sáng 2/8, trong khuôn khổ Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết năm 2026, nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân, ngư dân và du khách tham gia. Đây là nghi thức tiêu biểu của lễ hội, phản ánh tín ngưỡng thờ Cá Ông và đời sống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân vùng biển Lâm Đồng.

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.