Bảo tồn, phát huy giá trị Nhã nhạc Huế - Di sản văn hóa của nhân loại

Bảo tồn, phát huy giá trị Nhã nhạc Huế - Di sản văn hóa của nhân loại
Nhã nhạc Huế - Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại 

Nhã nhạc Huế (Âm nhạc cung đình Việt Nam) có từ thế kỷ thứ 13, nhưng chỉ đạt đến độ mức điêu luyện tại cung đình Huế dưới triều Nguyễn (1802 - 1945). Các vị vua Nguyễn coi Nhã nhạc là âm nhạc chính thức của cung đình. Dưới triều Nguyễn, Nhã nhạc đã trở thành một phần thiết yếu của quá trình nghi lễ, loại hình nghệ thuật này được trình diễn trong toàn bộ thời gian của gần 100 buổi lễ khác nhau mỗi năm. Phong phú về nội dung, Nhã nhạc đã được xem như một phương tiện liên lạc, bày tỏ tôn kính đến các vị thần linh và bậc đế vương. Ngoài ra, nó còn như là một phương tiện cho việc truyền đạt những ý tưởng mang tính triết lý và những khía cạnh về vũ trụ của người Việt Nam. 
 
Nhà vua Nhật Bản Akihito và Hoàng hậu Michiko nghe Nhã nhạc cung đình Huế tại Nhà hát Duyệt Thị Đường. Ảnh: Hồ Cầu - TTXVN
Nhà vua Nhật Bản Akihito và Hoàng hậu Michiko nghe Nhã nhạc cung đình Huế tại Nhà hát Duyệt Thị Đường. Ảnh: Hồ Cầu - TTXVN

Thuật ngữ Nhã nhạc không chỉ chứa đựng hệ thống âm nhạc cung đình dựa trên thang ngũ âm mà còn bao hàm cả sự trình diễn thực tế; được đặc trưng bởi sự đa dạng của các loại nhạc cụ và chỉ được biểu diễn vào những dịp nào đó, với các ca công và vũ công riêng. Trống đóng vai trò chủ đạo trong các dàn nhạc cung đình gồm nhiều nhạc công và mỗi nhạc công phải có sự tập trung cao để theo được mạch tất cả giai đoạn lễ nghi kéo dài.  

Những biến cố diễn ra ở Việt Nam trong thế kỷ 20, đặc biệt là sự sụp đổ của Vương triều Nguyễn và những thập kỷ chiến tranh liên miên, đã đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của Nhã nhạc. Bị mất đi ngữ cảnh cung đình, loại hình âm nhạc này đã mất đi một phần chức năng xã hội nguyên thủy của nó. Với sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ và cộng đồng địa phương, một vài nhạc công xưa của cung đình còn sống đang cố gắng làm sống lại truyền thống này và truyền đạt những kỹ năng biểu diễn Nhã nhạc cho thế hệ trẻ. Một số hình thức Nhã nhạc còn lại trong các tế lễ và lễ hội dân gian vẫn là một nguồn cảm hứng cho âm nhạc Việt Nam đương đại. 

Sau khi được tôn vinh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, theo khuyến nghị của UNESCO, Cục Di sản Văn hóa - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế tổ chức lớp tập huấn giới thiệu những nghệ nhân là "báu vật nhân văn sống" của Huế, tiến tới thiết lập một hệ thống "báu vật nhân văn sống" của Việt Nam. Sự đóng góp của những nghệ nhân ấy thời gian qua đã góp phần làm giàu giá trị di sản văn hóa Huế. 

Những người góp phần giữ "hồn" cho Nhã nhạc Huế 
  
Đặc điểm của Nhã nhạc Huế (hay còn gọi là Nhã nhạc cung đình Huế) là truyền nghề, trong khi những "Báu vật nhân văn sống" đều đã lớn tuổi. Năm 2010, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã mời anh em cụ Lữ Hữu Thi và Lữ Hữu Cử (thời điểm đó cụ Thi 92 tuổi và cụ Cử 86 tuổi - nay cả hai cụ đã mất) là hai người cuối cùng tham gia trong đội nhạc Hòa Thanh của triều Nguyễn cùng phục dựng lại vốn âm nhạc cung đình. 

Nghệ nhân Lữ Hữu Thi bên cây đàn nhị. Ảnh: Quốc Việt - TTXVN
Nghệ nhân Lữ Hữu Thi bên cây đàn nhị. Ảnh: Quốc Việt - TTXVN

Dưới Triều Nguyễn, đội nhạc Hòa Thanh trong cung đình (còn gọi là tiểu nhạc) có 10 người, gồm những người chơi nhạc cự phách: Lê Văn Hòa đánh trống bảng, Đinh Đó đàn tỳ, Trần Lư đàn tam, Nguyễn Thiện đàn nguyệt, Đinh Khai đàn nhị, hai anh em Lữ Hữu Thi và Lữ Hữu Cử....Khác với người anh đứng tên trong đội nhạc Hòa Thanh từ rất sớm, cụ Cử đến với đội nhạc như một cơ duyên. Năm 14 tuổi, cụ tham gia Lễ khánh thành Hội Phật học tại Đà Nẵng, có lúc đăng đàn thổi một mình. Cụ chơi được nhiều loại nhạc cụ như: kèn, sáo (địch), đàn nhị... Năm 17 tuổi, trong một lần đến chơi phục vụ nội thân nhà vua ở cung An Định, tiếng đàn, tiếng sáo của cụ qua các vở Tam Quốc, Lưu Bình Dương Lễ... đã thu phục được lòng người, đồng thời chính thức đưa cụ đến với đội nhạc Hòa Thanh và gắn bó với đội nhạc cung đình cho đến ngày Bảo Đại thoái vị. 

Nghệ nhân Lữ Hữu Thi bên cây đàn nhị. Ảnh: Quốc Việt - TTXVN
Nghệ nhân Lữ Hữu Thi bên cây đàn nhị. 
Ảnh: Quốc Việt - TTXVN

Đội nhạc Hòa Thanh có các nhạc cụ dân tộc như đàn tỳ, tam, nguyệt, nhị, kèn, sáo và các bộ gõ như trống, bảng... chỉ phục vụ nhà vua trong các dịp đăng quang, vạn thọ, triệu miếu, chúc tuổi đức từ cung (mẹ vua Bảo Đại)... Cụ Cử là người đa tài, vì thế dưới thời Bảo Đại, khi văn hóa phương Tây bắt đầu xâm nhập vào nước ta, cụ là người thổi được kèn Tây (Sexsophone, Clarinet, Sáo bạc Flute) nên được triều đình rất trọng dụng. Còn cụ Lữ Hữu Thi nổi bật với cây đàn nhị và chiếc kèn bóp. Tiếng đàn của cụ khi réo rắt, ai oán, có lúc lại bay bổng... Gia đình cụ còn có mấy đời tự làm lấy các nhạc cụ truyền thống như đàn nhị, kèn bóp, tiếng vang mà dịu... 

Trước khi mất, trong mấy năm qua, nhất là sau khi Nhã nhạc Huế (Nhạc cung đình Việt Nam) được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, những nhạc công cuối cùng trong đội nhạc triều Nguyễn đã nỗ lực giúp Nhà hát Duyệt Thị Đường (Đại Nội - Huế) phục dựng, bảo tồn các giá trị truyền thống của loại âm nhạc cung đình. Cụ Cử hơi nặng tai, do vậy, việc truyền dạy nghề của cụ có phần hạn chế. Cụ Thi, hàng tuần vào các ngày chẵn cụ nhờ con cháu chở vào nhà hát truyền nghề cho các diễn viên, nhạc công của Nhà hát Duyệt Thị Đường thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế. 

Cụ Lữ Hữu Thi còn nhớ và biểu diễn thành thạo tới 20 bài nhạc lễ cung đình. Ai từng có dịp gặp cụ Thi, được nghe, xem cụ đàn ca, mới thấy hết ngọn lửa đam mê nghệ thuật vẫn cháy trong tâm hồn người nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Nhà cụ nghèo thế nhưng khi cụ còn sống, chúng tôi đến thăm, hỏi cụ về suy nghĩ của mình, cụ chỉ ước muốn Nhà hát tạo điều kiện để cụ sớm truyền lại bài "Ngũ lôi nữ nhạc", đây là bài ứng tiếp mà triều đình thường dùng khi có khách quý, được như vậy khi nhắm mắt, cụ cũng mãn nguyện. Cụ lý giải "Đã mang lấy kiếp cầm ca thì mấy ai màng đến sang hèn" - có lẽ, cái khí phách ấy đã giúp cụ sống thanh thản suốt cuộc đời. 

Nghệ nhân Lữ Hữu Thi (bên phải), truyền những ngón nghề cho người con trai của mình là ông Lữ Viết Minh. Ảnh: Quốc Việt - TTXVN
Nghệ nhân Lữ Hữu Thi (bên phải), truyền những ngón nghề cho người con trai của mình là ông Lữ Viết Minh. Ảnh: Quốc Việt - TTXVN

Ông Trương Tuấn Hải, Đạo diễn sân khấu, Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế ( Nhà hát Duyệt Thị Đường) cho biết, cụ Cử và cụ Thi vừa góp công bảo tồn, phục dựng thành công các bài "thài" như Trầm Hương (An thần) một trong 8 bài nhạc lễ trong Lễ tế đàn Nam Giao, trong đó có đoạn ca từ sang trọng và rất khó như: Long nghi cáo bị/Nhạc chương đại thần/Tư văn dĩ phước/Minh đức duy hinh... Hiện nay, Nhà hát Nghệ thuật cung đình Huế đã xây dựng được đội ngũ gồm 90 diễn viên và nhạc công, tổ chức biểu diễn liên tục mỗi ngày 4 suất phục vụ khách tham quan, du lịch. Kết quả này có sự đóng góp rất lớn của hai nhạc công cuối cùng trong đội nhạc cung đình triều Nguyễn còn lại trên đất Cố đô. 

Nghệ nhân Trần Kích vừa qua đời (thọ 96 tuổi) là người từng rất đam mê với nghệ thuật Nhã nhạc. Cụ đam mê loại nhạc này, một phần do ảnh hưởng rất lớn từ cụ thân sinh ông và điều đặc biệt đến khi đi học, tiếng đàn, sáo của cụ Ưng Thiều, một đốc học của trường làng lúc bấy giờ đã cuốn hút cụ. Rồi như một định mệnh, tiếng đàn, tiếng sáo ấy theo cụ cho đến tận cuối đời. Những năm đầu, học nhạc đối với ông là thú vui để chơi, sau là một nghề để mưu sinh. Những gia đình khá giả quanh vùng đã từng thuê cụ về dạy cho con cái trong nhà. Lúc  cụ đi dạy ở Hà Trừ (Phú Vang), lúc về dạy ở Truồi (Phú Lộc). 

Sau này, cụ từng tham gia Đội nhạc cung đình Huế, vào biểu diễn Nhã nhạc trong Đại Nội phục vụ cung đình. Nghệ nhân Trần Kích chơi thành thạo 7 loại nhạc cụ, gồm nhị, nguyệt, tỳ, bầu, sáo... Với cụ, âm thanh réo rắt của cây đàn Huế có sức thu hút mãnh liệt, thể hiện được nét sâu lắng của giai điệu nhạc Huế. Cụ tham gia chơi nhạc cho cả đại nhạc, tiểu nhạc, nhạc tuồng Huế, nhạc Phật, nhạc múa cung đình, nhạc đệm cho ca Huế. Cụ còn tự làm những cây kèn, cây đàn nhị độc đáo của Huế, để sử dụng và cung cấp cho học trò. Cây đàn nhị ở Huế khác với các nơi khác ở chỗ lấy cung bậc mang âm sắc riêng biệt. Ngón đàn của cụ, nhất là đàn nhị, đàn bầu và hơi kèn trau chuốt, sang trọng đã mê hoặc bao người. 

Nghệ nhân Trần Kích. Ảnh: Chinhphu.vn
Nghệ nhân Trần Kích. Ảnh: Chinhphu.vn

Ngay từ năm 1962, khi Trường nhạc Huế được thành lập, nghệ nhân Trần Kích đã có tên trong danh sách những người dạy nhạc cho trường. Qua hai chế độ, liên tục cho đến năm 1988, tức 13 năm sau ngày giải phóng, cụ mới xin nghỉ hưu và sau này vẫn tiếp tục dạy theo hợp đồng cho Trường Nhạc Huế. Nhiều thế hệ học trò từng được cụ truyền dạy nghề, nay thành danh không kể hết. Nhiều người trong số họ trở thành các nhà quản lý các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, như các anh Đại Dũng, Tiến Dũng (Đoàn Nghệ thuật truyền thống Huế) hay Trọng Nghĩa, Hữu Lai ở các đoàn ca kịch Đà Lạt, Quy Nhơn. 

Nhã nhạc có yếu tố truyền khẩu là chủ yếu do đó muốn lưu giữ được loại hình nghệ thuật này các nghệ nhân cao tuổi phải vừa hướng dẫn vừa chỉnh đốn vừa từng bước truyền nghề cho các thế hệ. Cụ Trần Kích đã nghiên cứu cách ký âm và ứng dụng vào việc ghi chép các bài bản ca nhạc cung đình Huế. Cụ đã ký âm hoàn chỉnh, góp phần ghi lại được 30 bài bản về Đại nhạc và Tiểu nhạc. Khác với các nghệ nhân cùng thời, cụ Kích không chỉ dạy học trò bằng cách truyền ngón nghề, kỹ thuật nhấn nhá, rung, vỗ, luyến láy mà còn sử dụng bài bản ký âm để bảo tồn, lưu giữ và dạy nhạc truyền thống Huế. Hiện người con trai duy nhất của cụ là nhạc sĩ Trần Thảo đã nối nghiệp cha chơi được các loại sáo, kèn, nguyệt, nhị, bầu, trống... và trở thành giảng viên của Trường Đại học Nghệ thuật Huế. 

Bảo tồn, phát huy giá trị Nhã nhạc Huế 

Nhã nhạc Huế, ngoài yếu tố nội lực còn được "tiếp sức" trong dự án "Bảo tồn và phát huy những giá trị Nhã nhạc Huế (Nhạc Cung đình Việt Nam)". Theo đó, UNESCO thông qua Quỹ ủy thác Nhật Bản đã tài trợ kinh phí 154.900 USD cùng với nguồn đối ứng từ Chính phủ Việt Nam là 190.000 USD để bảo tồn và phát huy những giá trị của Nhã nhạc như: Tổ chức tập huấn nhằm nâng cao phương pháp luận về nghiên cứu, lưu trữ cho 10 cán bộ; tuyển sinh và truyền dạy nghề theo kiểu truyền thống cho 20 nhạc công Nhã nhạc (trong đó có 18 nhạc công được tuyển vào làm việc tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống cung đình Huế). 

Hòa tấu tiếu nhạc. Ảnh: Thế Duyệt-TTXVN
Hòa tấu tiếu nhạc. Ảnh: Thế Duyệt-TTXVN

Những người thực hiện Dự án còn tập trung nghiên cứu, sưu tầm, lưu trữ và phục hồi bài bản nhã nhạc tiêu biểu, như Thái Bình cổ nhạc, các bản ca Thài trong lễ tế Nam Giao; chuyển biên các bài bản Nhã nhạc; lập hồ sơ các nghệ nhân tiêu biểu là những "báu vật nhân văn sống". Đặc biệt, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế còn phối hợp với nhà nghiên cứu Trịnh Bách phục chế trang phục Nhã nhạc Huế gồm: 15 áo mão Đại nhạc, 15 áo mão Tiểu nhạc, 64 áo Giao lĩnh Bát dật Văn, 64 Trấn thủ Bát dật Võ... 

Âm nhạc cung đình Huế càng có giá trị hơn khi UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Trong hơn 13 năm qua, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn được 10 nhạc chương trong lễ Tế Giao, 9 nhạc chương trong lễ Tế Miếu, 5 nhạc khúc trong lễ Đoan Dương, Vạn Thọ và Tết Nguyên đán, 40 nhạc khúc trong diễn tấu với đội Tiểu nhạc, 14 nhạc khúc kèn dùng trong Đại nhạc, 10 nhạc khúc diễn tấu khi có Vua ngự. Nhiều tiết mục đã được Nhà hát Duyệt Thị Đường dàn dựng và biểu diễn như: Trống Thái Bình, Tam luân cửu chuyển (đại nhạc); Phú lục dịch, Kim tiền (tiểu nhạc); Vũ phiến, Lục cúng hoa đăng (múa) và nhiều trích đoạn tuồng cổ như Kỷ Lan Anh, Ôn Đình chém Tá. Giám đốc Nhà hát Duyệt Thị Đường Trương Tuấn Hải cho biết, có 15 điệu múa cung đình đã được biên soạn; đồng thời, phục hồi được một số điệu múa khác như: Trình tường tập khánh, Nữ tướng xuất quân, Lân mẫu xuất lân nhi, Song phụng, Long hổ hội. Nhà hát còn dàn dựng được 13 điệu múa nâng cao như: Huyện Trân, Lộng Điệp, Xẩm Huế, Phách nhịp du xuân. 

Biểu diễn nhã nhạc cung đình Huế trong đêm hoàng cung. Ảnh: Hồ Cầu-TTXVN
Biểu diễn nhã nhạc cung đình Huế trong đêm hoàng cung. Ảnh: Hồ Cầu-TTXVN

Nhà hát Duyệt Thị Đường (được xây dựng cách đây 200 năm) tuy mới được trùng tu đưa vào sử dụng nhưng đã kế thừa lịch sử, tiếp tục khai thác, phục hồi những tác phẩm tiêu biểu có khả năng bị thất truyền, nhất là Nhạc lễ cung đình Huế để đưa Nhã nhạc Huế, một loại hình âm nhạc chốn cung đình đến với công chúng. 

Những thành quả trên có một phần đóng góp không nhỏ của các nghệ nhân - "Những báu vật nhân văn", những người góp phần giữ "hồn" cho Nhã nhạc Huế.
Quốc Việt 
TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Sáng 10/1, tại đảo hoa anh đào ở bản Kéo, UBND xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, đã tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng năm 2026, với chủ đề “Mường Phăng vào xuân - Hoa anh đào khoe sắc”. Với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, lễ hội đã thu hút hàng nghìn du khách nô nức đến dự và trải nghiệm.

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nằm ngay bên Quốc lộ 1A, tại xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm là một không gian văn hóa đặc thù, nơi lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những giá trị tiêu biểu của cộng đồng người Chăm. Với hệ thống hiện vật phong phú, không gian trưng bày khoa học cùng nhiều hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa, Trung tâm đang từng bước trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Cồng chiêng ngày nay không chỉ ngân vang trong các lễ hội, mà đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống đương đại. Từ buôn làng đến không gian cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa truyền thống đến các mô hình du lịch trải nghiệm, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng nòng cốt tiếp nối mạch nguồn di sản, gìn giữ và lan tỏa giá trị cồng chiêng Tây Nguyên.

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

An Giang là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ nay đến hết tháng 1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu tới công chúng các hoạt động đón Xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Dù đã cao tuổi, bà Ma Ly (71 tuổi, xã Quảng Lập, Lâm Đồng) vẫn miệt mài duy trì nghề làm gốm truyền thống của dân tộc Churu. Không chỉ cung cấp sản phẩm cho khách hàng, bà Ma Ly còn đón du khách trải nghiệm, truyền dạy nghề gốm truyền thống cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh.

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Ngày 1/1, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức chương trình đón du khách và chuyến bay đầu tiên đến tỉnh Điện Biên năm 2026 tại Cảng Hàng không Điện Biên.

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Trong không khí hân hoan của đồng bào dân tộc Chứt đón Tết Chăm Cha Bới (Tết mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và cầu mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Chứt), ngày 28/12, tại bản Rào Tre (xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức “Ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số” năm 2025.

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Trong tiến trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu, xây dựng và đưa vào sử dụng trang phục sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào Chứt, tỉnh Quảng Trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ lấp đầy “khoảng trống” văn hóa suốt nhiều năm, những bộ áo quần truyền thống được nghiên cứu công phu và trao cho cộng đồng còn tạo nền tảng để các giá trị văn hóa Chứt được gìn giữ, lan tỏa, tiếp nối bền vững trong đời sống đương đại.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

“Đồi thông hai mộ” từ lâu không chỉ là một truyện thơ mà còn là một địa danh nổi tiếng của vùng Mường Động tại xóm Đằng Long, xã Nật Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là miền ký ức văn hóa sâu thẳm của người Mường cổ, lan tỏa không gian cư trú cổ truyền trong không gian sáp nhập mới từ Hòa Bình đến Phú Thọ - nơi những câu chuyện tình, tín ngưỡng và cảnh quan hòa quyện thành nguồn lực du lịch văn hóa đặc sắc.

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Ngày 24/12, tại Đình cổ Hùng Lô - không gian trải nghiệm di sản văn hóa tiêu biểu vùng Đất Tổ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ tổ chức công bố Chương trình Du lịch học đường - Giáo dục di sản văn hóa vùng Đất Tổ.

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Làng gốm Chăm Bàu Trúc ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, là một trong những làng gốm cổ xưa nhất ở Đông Nam Á đến nay vẫn duy trì phương pháp sản xuất hoàn toàn thủ công với những giá trị văn hóa, kỹ thuật độc đáo. “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Không gian văn hóa nghệ thuật 22 Hàng Buồm (Hà Nội) những ngày qua vang lên những thanh âm rất đặc biệt – khi trầm hùng, ngân vọng của Chiêng Mường, khi rộn ràng, trang nghiêm của Nhạc Ngũ âm Khmer. Giữa lòng Thủ đô, những sắc âm đến từ núi rừng Phú Thọ và phum sóc Nam Bộ đã mang đến cho công chúng một trải nghiệm di sản sống động và đầy cảm xúc.

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Mường Lay là thị xã nhỏ miền núi thuộc tỉnh Điện Biên, nằm yên bình bên lòng hồ thủy điện Sơn La. Đây không chỉ là nơi sinh sống của cộng đồng người Thái trắng qua hàng trăm năm mà còn là vùng đất thấm đẫm nét đẹp văn hóa. Với những di sản độc đáo như múa xòe, đàn tính tẩu... Mường Lay được ví như một bảo tàng sống, lưu giữ trọn vẹn giá trị truyền thống của dân tộc Thái giữa đại ngàn Tây Bắc.

Giữ tiếng chiêng linh thiêng giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ tiếng chiêng linh thiêng giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, ở phía Tây tỉnh Quảng Trị, nơi những ngọn núi trùng điệp xanh mướt nối tiếp nhau trập trùng, có những bản làng bình yên của người Pa Cô, Vân Kiều sinh sống bao đời nay. Ở nơi đây, tiếng hát, tiếng đàn, điệu khèn vẫn ngân vang mỗi buổi sớm, chiều. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn có những con người thầm lặng, bền bỉ cống hiến cả cuộc đời để bảo tồn tiếng hát, điệu múa, tiếng cồng chiêng và linh hồn của núi rừng quê hương. Đó chính là cội nguồn, bản sắc độc đáo riêng của dân tộc không thể nào bị lãng quên.

Rộn rã Đêm hội cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025

Rộn rã Đêm hội cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025

Đêm 20/12 trên Quảng trường Lâm Viên, phường Xuân Hương- Đà Lạt, UBND tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Đêm hội hòa âm cồng chiêng Đông Nam Á 2025. Sự kiện trên có sự tham gia của các đoàn nghệ nhân đến từ 3 quốc gia Đông Nam Á là Lào, Campuchia và Malaysia; đại diện đoàn nghệ nhân các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Quảng Ngãi, Phú Thọ; đại diện các đoàn nghệ nhân nhiều địa phương và các doanh nghiệp du lịch của tỉnh Lâm Đồng.

Kế thừa và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Kế thừa và phát huy di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Ngày 19/12, tại Trung tâm Văn hóa - Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tổ chức Liên hoan Văn hóa Cồng chiêng và Nhạc cụ truyền thống các dân tộc năm 2025 với chủ đề với chủ đề “Âm vang cồng chiêng - gắn kết cộng đồng”.

Lạng Sơn: Bảo tồn và quảng bá văn học dân gian của các dân tộc thiểu số

Lạng Sơn: Bảo tồn và quảng bá văn học dân gian của các dân tộc thiểu số

Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… là những vấn đề trọng tâm được phân tích, luận bàn, đưa ra tại Hội thảo: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tác phẩm, công trình văn học dân gian của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh”, do Hội Văn học Nghệ thuật và Nhà báo tỉnh Lạng Sơn tổ chức chiều 18/12.

Khơi mạch nguồn tranh dân gian Làng Sình

Khơi mạch nguồn tranh dân gian Làng Sình

Từ khởi nguồn là loại tranh dùng để thờ cúng trong dân gian từ hơn 400 năm trước, tranh dân gian Làng Sình trải qua nhiều thăng trầm, đến nay vẫn có sức sống, chậm rãi hòa vào dòng chảy văn hóa dân gian vùng đất Huế.

Kỹ nghệ kéo sợi của phụ nữ Dao

Kỹ nghệ kéo sợi của phụ nữ Dao

Để làm ra được những chiếc áo truyền thống với vẻ đẹp sặc sỡ, tỉ mỉ của phụ nữ Dao ở bản Hùng Pèng, xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu) phải trải qua rất nhiều công đoạn và được làm hoàn toàn thủ công. Trong những công đoạn đó, công đoạn kéo sợi cần phải tỉ mỉ, kỳ công để từ những sợi vải nhỏ, ngắn được đan bện lại với nhau thành những cuộn vải bền đẹp.

Người tiếp lửa đam mê văn hóa dân tộc Cao Lan

Người tiếp lửa đam mê văn hóa dân tộc Cao Lan

Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn là người dân tộc Cao Lan, ở thôn Mãn Hóa, xã Phú Lương, tỉnh Tuyên Quang. Chứng kiến sự mai một của nhiều giá trị truyền thống theo thời gian, ông luôn trăn trở, tích cực nghiên cứu, học hỏi, sưu tầm, gìn giữ và thực hành các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc mình.