Bảo tồn tiếng dân tộc Tày, Nùng trong vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng

Ngày 29/5, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng tổ chức vòng chung kết Cuộc thi “Bảo tồn tiếng dân tộc Tày, Nùng cho học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng".

Một tiết mục trong phần thi năng khiếu thể hiện bằng tiếng Tày-Nùng.

Một tiết mục trong phần thi năng khiếu thể hiện bằng tiếng Tày-Nùng.

Tại vòng thi chung kết, 8 đội thi của hai khối Trung học cơ sở, Trung học phổ thông tham gia ba phần thi là thi trắc nghiệm kiến thức, thi năng khiếu, thi bốc thăm và trả lời câu hỏi. Các tiết mục được thể hiện bằng tiếng Tày, Nùng một cách linh hoạt, sinh động, phản ánh sự sáng tạo, niềm tự hào dân tộc và hiểu biết sâu sắc của học sinh về văn hóa truyền thống, góp phần lan tỏa ý thức gìn giữ, phát huy tiếng nói bản địa trong thế hệ trẻ.

Một tiết mục giới thiệu quy trình làm bánh cuốn Cao Bằng bằng tiếng Tày-Nùng.

Một tiết mục giới thiệu quy trình làm bánh cuốn Cao Bằng bằng tiếng Tày-Nùng.

Kết thúc vòng chung kết, Ban Tổ chức đã trao Giải Nhất khối Trung học cơ sở cho Trường Trung học cơ sở xã Minh Thanh (huyện Nguyên Bình), Giải Nhất khối Trung học phổ thông cho Trường Trung học phổ thông Đàm Quang Trung (huyện Hà Quảng).

Ban Tổ chức trao giải Nhì khối THCS cho Trường Trung học cơ sở Minh Thanh, tỉnh Cao Bằng.

Ban Tổ chức trao giải Nhì khối THCS cho Trường Trung học cơ sở Minh Thanh, tỉnh Cao Bằng.

Cuộc thi “Bảo tồn tiếng dân tộc Tày, Nùng cho học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông trong vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng" phát động vào cuối tháng 3/2025. Đối tượng dự thi là thành viên câu lạc bộ “Cùng em khám phá Công viên địa chất” của các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cao Bằng, các huyện Quảng Hòa, Trùng Khánh, Hạ Lang, Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, Thạch An (các đơn vị trường nằm trong vùng Công viên địa chất Non nước Cao Bằng).

Ban Tổ chức trao giải Nhất khối THPT cho Trường Trung học phổ thông Đàm Quang Trung, tỉnh Cao Bằng.

Ban Tổ chức trao giải Nhất khối THPT cho Trường Trung học phổ thông Đàm Quang Trung, tỉnh Cao Bằng.

Ban Tổ chức tiếp nhận 57 hồ sơ dự thi tại vòng sơ khảo, trong đó, có 35 hồ sơ từ khối Trung học cơ sở và 22 hồ sơ từ khối Trung học phổ thông. Các sản phẩm dự thi đảm bảo chất lượng, khoa học, hình thức sinh động, hấp dẫn, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực trong cộng đồng và trường học.

Tại vòng bán kết, các thí sinh tham gia tranh tài ở hai phần thi chính: “Tuyên truyền viên giỏi” và năng khiếu. Kết thúc vòng bán kết, Ban Tổ chức chọn ra 8 đội thi xuất sắc bước vào vòng chung kết, gồm 4 đội khối Trung học cơ sở và 4 đội khối Trung học phổ thông.

Ban Tổ chức trao giải Nhì khối THPT cho Trường Trung học phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Cao Bằng.

Ban Tổ chức trao giải Nhì khối THPT cho Trường Trung học phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Cao Bằng.

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng Nông Thị Tuyến nhấn mạnh, cuộc thi đã thúc đẩy phong trào học tập và sử dụng tiếng dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, qua đó, góp phần ngăn chặn nguy cơ mai một ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Đồng thời nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của học sinh và người dân Cao Bằng đối với việc giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc; giới thiệu nét đẹp đặc sắc và các điểm di sản của Công viên địa chất Non nước Cao Bằng bằng chính ngôn ngữ của dân tộc bản địa, góp phần tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của vùng đất Cao Bằng, thúc đẩy du lịch cộng đồng, phát triển kinh tế dựa trên đặc trưng văn hóa địa phương…/.

Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Khai mạc Lễ hội Tinh hoa đại ngàn - Biển xanh hội tụ năm 2025

Khai mạc Lễ hội Tinh hoa đại ngàn - Biển xanh hội tụ năm 2025

Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, tối 29/8, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức khai mạc Lễ hội Tinh hoa đại ngàn - Biển xanh hội tụ năm 2025 với chủ đề: "Khát vọng biển xanh - Đại ngàn tỏa sáng".

Hát Xoan - Di sản lan tỏa từ miền đất Tổ

Hát Xoan - Di sản lan tỏa từ miền đất Tổ

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, Hát Xoan Phú Thọ là loại hình độc đáo, gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - cội nguồn dựng nước của dân tộc. Với giai điệu mộc mạc, ca từ dung dị nhưng giàu chiều sâu văn hóa, Hát Xoan không chỉ phản ánh đời sống tinh thần của cư dân vùng đất Tổ mà còn góp phần khẳng định bản sắc Việt Nam trên bản đồ di sản thế giới.

Độc đáo ngôi đình có một không hai ở Đồng Tháp

Độc đáo ngôi đình có một không hai ở Đồng Tháp

Hai cây bồ đề buông rễ ôm toàn bộ ngôi đình là một trong những nét độc đáo, cổ kính của đình Tân Đông ở xã Tân Đông, tỉnh Đồng Tháp. Hơn 100 năm qua, dù qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng các giá trị lịch sử, văn hóa của ngôi đình này vẫn còn vẹn nguyên đến hôm nay. Ngày nay, đình Tân Đông là một trong những địa điểm thu hút, đón khách tham quan, du lịch nổi tiếng ở xã Tân Đông, tỉnh Đồng Tháp.

Trên 2.500 người sẽ tham gia màn đại xòe trong Tết Độc lập

Trên 2.500 người sẽ tham gia màn đại xòe trong Tết Độc lập

Ban Tổ chức Tết Độc lập tỉnh Lai Châu cho biết, chương trình Tết Độc lập năm 2025 tại xã Than Uyên ở quy mô cấp tỉnh sẽ diễn ra từ ngày 30/8 đến hết ngày 2/9. Chủ tịch UBND xã Than Uyên Phan Văn Ngọc nêu rõ, điểm nhấn trong dịp Tết Độc lập năm nay là màn đại xòe, với sự tham gia của trên 2.500 người. Trước khi diễn ra màn múa xòe sẽ diễn ra màn múa khèn, múa ô của dân tộc Mông.

Lào Cai: Xây dựng văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững

Lào Cai: Xây dựng văn hóa trở thành động lực phát triển bền vững

“Trong giai đoạn phát triển mới, ngành Văn hóa cần nhận thức sâu sắc văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là cội nguồn sức mạnh nội sinh, là động lực thúc đẩy phát triển bền vững. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn với nâng cao chỉ số hạnh phúc của nhân dân, chính là con đường đưa Lào Cai vươn lên phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc, trở thành một cực tăng trưởng mới, một trung tâm kết nối kinh tế - văn hóa của cả vùng”. Đó là nội dung được Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường nhấn mạnh tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945 - 28/8/2025) diễn ra sáng 24/8.

'Vui Tết Độc lập' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

'Vui Tết Độc lập' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, từ ngày 30/8-2/9, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội), sẽ diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9.

Tập thơ Gia huấn ca nam được sáng tác theo thể loại Brahmakite (thể thơ 5-6 chữ), một thể thơ truyền thống phổ biến trong văn học dân gian Khmer. Ảnh: Sơn Hên

Giá trị giáo dục độc đáo trong "Gia huấn ca nam" của người Khmer Nam Bộ

“Gia huấn ca nam” là tác phẩm thơ giáo huấn đặc sắc của người Khmer Nam Bộ, được truyền từ đời này sang đời khác để răn dạy nam giới về đạo lý, nhân cách và cách ứng xử trong gia đình, xã hội. Với ngôn ngữ giản dị, thể thơ truyền thống dễ thuộc, dễ nhớ, tác phẩm được dạy trong gia đình, chùa chiền và trường học. Không chỉ mang giá trị đạo đức, “Gia huấn ca nam” còn là nền tảng văn hóa giáo dục, đồng thời là kho tàng tri thức dân gian của cộng đồng người Khmer.

Nhiều hoạt động sôi nổi tại Ngày hội văn hóa, thể thao tôn giáo tại Thái Nguyên

Nhiều hoạt động sôi nổi tại Ngày hội văn hóa, thể thao tôn giáo tại Thái Nguyên

Ngày 20/8, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Thái Nguyên phối hợp với các sở, ngành, địa phương, các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao tôn giáo lần thứ IV năm 2025, với sự tham gia của hơn 400 vận động viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo.

Giữ gìn giá trị văn hóa từ lớp học tiếng Khmer

Giữ gìn giá trị văn hóa từ lớp học tiếng Khmer

Mỗi dịp hè, nhiều điểm chùa Phật giáo Nam tông Khmer tại thành phố Cần Thơ tổ chức các lớp dạy chữ Khmer cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số. Các lớp học này giúp truyền dạy tiếng nói, chữ viết, góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của đồng bào Khmer qua từng thế hệ.

Sóc Bom Bo - Không gian văn hóa S’tiêng sống động

Sóc Bom Bo - Không gian văn hóa S’tiêng sống động

Sóc Bom Bo (xã Bom Bo, tỉnh Đồng Nai) là địa danh đã đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước. Tiếng chày trên Sóc Bom Bo không chỉ là âm thanh của sự sống mà còn là biểu tượng của tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của quân và dân nơi đây. Ngày nay, du khách đến Bom Bo vẫn có thể nghe thấy tiếng chày, tiếng cồng chiêng vang vọng khắp nơi, cảm nhận rõ nét hơi thở văn hóa và lịch sử trên mảnh đất anh hùng.

Nghệ nhân Thạch Tung truyền dạy cách đánh trống Chhay Dăm cho em Thạch Sen, con út trong gia đình

Người giữ nhịp trống Chhay Dăm nơi phum sóc

Mỗi dịp lễ hội về trên phum sóc, tiếng trống Chhay Dăm lại vang lên rộn ràng qua đôi tay điêu luyện của nghệ nhân Thạch Tung. Ông đã dành hơn nửa đời mình gắn bó với điệu múa trống truyền thống, góp phần gìn giữ và truyền lửa đam mê văn hóa Khmer cho thế hệ trẻ.

Sapa mùa lúa xanh: Bình yên nép giữa thung lũng mây

Sapa mùa lúa xanh: Bình yên nép giữa thung lũng mây

Nếu mùa lúa chín vào tháng 9, 10 là thời điểm Sapa rực rỡ trong sắc vàng, mùa lúa xanh lại mang đến vẻ đẹp nguyên sơ, dịu dàng và đầy sức sống. Những thửa ruộng bậc thang mướt mát trải dài theo triền núi như mời gọi du khách dừng chân, hít hà hương đồng gió núi và tận hưởng vẻ thanh bình của núi rừng Tây Bắc.

Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị Đờn ca tài tử Nam Bộ

Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị Đờn ca tài tử Nam Bộ

Được xem là cái nôi của nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Long An (nay là Tây Ninh mới) đã và đang từng bước khẳng định vai trò trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại.

'Đắk Lắk - Âm vang ngày mới'

'Đắk Lắk - Âm vang ngày mới'

Tối 19/7, tại quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk) diễn ra chương trình nghệ thuật - thời trang với chủ đề “Đắk Lắk - Âm vang ngày mới”.

Dạy chữ Khmer, giúp học sinh gắn kết với cội nguồn văn hóa dân tộc

Dạy chữ Khmer, giúp học sinh gắn kết với cội nguồn văn hóa dân tộc

Đã thành thông lệ, vào dịp hè, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Vĩnh Long tổ chức các lớp dạy chữ Khmer cho học sinh là con em đồng bào Khmer tại địa phương. Hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số mà còn tạo nên sân chơi bổ ích trong dịp hè, giúp các em gắn kết với cội nguồn văn hóa dân tộc.

Tiếng nói đầy cảm hứng của những em gái dân tộc thiểu số

Tiếng nói đầy cảm hứng của những em gái dân tộc thiểu số

Tại Hà Nội, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng Văn phòng UNESCO Hà Nội đã tổ chức triển lãm tranh “Chúng tôi CÓ THỂ”. Sự kiện đặc biệt này giới thiệu gần 30 tác phẩm do các em học sinh thực hiện, được tuyển chọn từ hai cuộc thi “Vươn xa - Tỏa sáng” và “Trẻ em gái làm chủ tương lai”, một sáng kiến nhằm hỗ trợ phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số tại vùng khó khăn tiếp cận cơ hội học tập và phát triển toàn diện.

Nhạc cụ truyền thống giữ hồn văn hóa dân tộc

Nhạc cụ truyền thống giữ hồn văn hóa dân tộc

Trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc vùng cao Lào Cai, nhạc cụ truyền thống đã giúp truyền tải nét đẹp tâm hồn với các thanh âm, điệu múa và nhạc điệu của tâm linh hiện hữu trong những nghi lễ thiêng liêng của đồng bào nơi đây, thể hiện sức sống bền bỉ, mộc mạc, tính gắn kết cộng đồng cao.

Yên Bái khát vọng vào thời kỳ đổi mới

Yên Bái khát vọng vào thời kỳ đổi mới

Tối 29/6, tại Quảng trường 19/8, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “80 năm - Sáng mãi niềm tin” nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Yên Bái (30/6/1945 - 30/6/2025) và chào mừng thành lập tỉnh Lào Cai mới.