Giữ hồn khèn Mông ở vùng cao Trạm Tấu

Người Mông ở vùng cao Trạm Tấu (Yên Bái) hiện còn giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc của đồng bào. Cây khèn với họ không chỉ là nhạc cụ, mà còn là tiếng nói của núi rừng, tiếng lòng của người Mông và sợi dây kết nối giữa quá khứ, hiện tại với tương lai. Để tiếng khèn trường tồn với thời gian, các thế hệ người Mông huyện Trạm Tấu luôn miệt mài gìn giữ nét văn hóa đặc sắc này.

Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu mở lớp dạy khèn Mông cho hàng chục thanh niên trong huyện Trạm Tấu.

Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu mở lớp dạy khèn Mông cho hàng chục thanh niên trong huyện Trạm Tấu.

Góp phần gìn giữ văn hóa trường tồn

Tại xã Bản Công, huyện Trạm Tấu vẫn có những người bền bỉ lặng lẽ, âm thầm vun đắp cho tiếng khèn của người Mông mãi trường tồn. Họ là những nghệ nhân, người “giữ hồn” khèn Mông. Bằng tình yêu văn hóa cháy bỏng và trái tim đầy nhiệt huyết, họ nỗ lực truyền lửa cho thế hệ trẻ, để tiếng khèn của người Mông không bao giờ lụi tàn theo dòng chảy thời gian.

Trong không gian văn hóa của người Mông, tiếng khèn mang ý nghĩa thiêng liêng, đặc biệt trong màn độc tấu, tiếng khèn như trở thành tiếng lòng của người đàn ông. Bởi vậy, từ thuở ấu thơ, những cậu bé người Mông ở Trạm Tấu đã được những người lớn tuổi, những bậc thầy khèn trong gia đình, dòng tộc trao truyền bí quyết diễn tấu khèn. Thế nhưng, để tiếng khèn thực sự chạm đến trái tim cộng đồng, được cộng đồng trân trọng lại là một hành trình đòi hỏi sự khổ luyện và đam mê không ngừng.

Ông Hờ A Thào, Nghệ nhân dân gian ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu là người có tình yêu và niềm đam mê với khèn. Tiếng khèn đã thấm sâu vào máu thịt ông ngay từ khi còn là một cậu bé. Giờ đây, dù vui hay buồn, chiếc khèn luôn là người bạn tri kỷ bên cạnh ông. Mỗi khi tiếng khèn của ông cất lên, trong âm thanh ấy, người nghe có thể cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Trạm Tấu, sự giản dị mà đôn hậu trong cuộc sống của đồng bào nơi đây.

Người dân nơi đây ví tiếng khèn của ông Thào như một bức tranh, một câu chuyện kể về đất và người Trạm Tấu. Bởi tiếng khèn ấy quá đỗi ngọt ngào và lay động, nhiều gia đình người Mông, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, vẫn quyết tâm gửi gắm con em mình cho nghệ nhân Hờ A Thào truyền dạy. Không chỉ trau dồi kỹ năng cho bản thân, những năm gần đây, ông Thào còn mở lớp dạy, tận tâm chỉ bảo cho con em đồng bào Mông trên khắp vùng cao Trạm Tấu.

khen-mong.jpg
Nghệ nhân dân gian Hờ A Thào ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu dạy tiếng Khèn cho các thanh niên người Mông.

Là thầy giáo dạy khèn Mông nhiều năm nay, theo ông Thào, học thổi khèn Mông không khó, nhưng để thấu hiểu được hồn cốt của tiếng khèn, diễn tấu thành thạo ở nhiều thể loại khác nhau thì là một thử thách lớn. Đầu năm 2025, ông vinh dự khi được Nhà nước, tỉnh Yên Bái phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, đây là động lực để ông nỗ lực hơn nữa giúp thế hệ sau có thêm nhiều người giỏi khèn Mông, góp phần gìn giữ văn hóa người Mông được trường tồn mãi mãi.

Anh Thào A Chang, ở xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu tâm sự, trước đây, mỗi khi có lễ hội, anh chỉ dám đứng từ xa ngắm nhìn các bậc cha chú thổi và múa khèn. Giờ đây, được thầy Hờ A Thào tận tình truyền dạy, anh đã học được nhiều điệu, nhiều bài và tự tin thể hiện trong những ngày lễ quan trọng của cộng đồng. Anh rất vui và cảm ơn thầy Thào đã giúp anh biết thổi khèn, góp phần không làm mai một bản sắc của dân tộc.

Chung niềm đam mê với anh Chang, anh Hờ A Tểnh, ở xã Bản Công, huyện Trạm Tấu gắn bó với lớp học của thầy Hờ A Thào gần hai năm. Anh Tểnh và anh Chang là hai trong số hơn 30 học trò mà thầy Thào dìu dắt từ năm 2022. Đến nay, họ đều là những "cánh chim" đầy triển vọng của tiếng khèn Mông Trạm Tấu.

Anh Hờ A Tểnh chia sẻ, nhờ sự động viên, hướng dẫn tận tình của thầy Thào, từ việc làm quen với từng nốt nhạc, đến luyện tập các bài phức tạp, giờ anh có thể làm chủ được cây khèn và tự tin thể hiện nhiều bài khác nhau. Anh sẽ cố gắng học khèn tốt hơn nữa để sau này có thể truyền lại ngọn lửa đam mê này cho con cháu mình.

Khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc

Lớp học khèn Mông của những người "giữ lửa" tiếng khèn trên non cao Trạm Tấu.

Lớp học khèn Mông của những người "giữ lửa" tiếng khèn trên non cao Trạm Tấu.

Khèn Mông thường được biểu diễn dưới nhiều hình thức độc tấu da diết, hòa tấu nhịp nhàng hay tập thể hùng tráng. Cái khó không chỉ nằm ở việc, người thổi phải thổi lên những giai điệu, mà còn ở sự kết hợp uyển chuyển giữa tiếng khèn và những điệu múa độc đáo, đòi hỏi kỹ thuật cao, mang đậm tính nghệ thuật. Những động tác múa khèn như nhảy đưa chân mạnh mẽ, quay tại chỗ điêu luyện, lăn nghiêng táo bạo đều tạo nên một màn trình diễn vừa nghe say đắm lòng người, vừa mãn nhãn người xem.

Tuy nhiên, hiện nay trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, số lượng người trẻ đam mê và theo học khèn Mông ngày càng ít, nguy cơ mai một di sản văn hóa quý giá này là điều không thể tránh khỏi. Với mong muốn bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của cây khèn truyền thống, ông Giàng A Su, nguyên Bí thư Huyện ủy Trạm Tấu luôn cố gắng hết mình để dạy cho thế hệ trẻ từng nốt nhạc, kỹ thuật lấy hơi.

Ông Giàng A Su cho biết, khi ông 15 tuổi đã rất đam mê khèn Mông, đến nay dù đã cao tuổi nhưng niềm đam mê khèn Mông trong trái tim ông chưa bao giờ tắt. Theo ông Su để thổi được khèn thành một bài hoàn chỉnh, có hồn, có điệu, đòi hỏi người học phải có sự kiên trì. Vì vậy, không chỉ cố gắng truyền dậy kỹ năng cho các bạn trẻ, ông còn khơi gợi niềm yêu thích, đam mê trong mỗi người. Có như vậy các cháu mới tiến bộ nhanh chóng, ông Su chia sẻ.

Theo ông Su, độ tuổi phù hợp để học khèn Mông tốt nhất là khoảng 10 tuổi. Nếu cố gắng học chăm chỉ, người học sẽ mất khoảng 2 năm là có thể thổi được một số bài khèn cơ bản. Khi giỏi rồi gặp bài khèn khó đến mấy chỉ cần nghe qua là cũng có thể diễn tấu được.

Nhiều thanh niên người Mông thông qua lớp học thấy yêu thích tiếng khèn của đồng bào.

Nhiều thanh niên người Mông thông qua lớp học thấy yêu thích tiếng khèn của đồng bào.

Để giữ gìn khèn Mông, việc chế tác cũng rất quan trọng. Gắn bó gần 35 năm với nghề chế tác khèn, ông Cứ A Sang, ở xã Trạm Tấu, huyện Trạm Tấu là một nghệ nhân chế tác khèn tài ba.

Ông Cứ A Sang bộc bạch, với người Mông, cây khèn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh nên rất cần được các cấp quan tâm, mở lớp để truyền dạy làm khèn cho các thanh niên trẻ. Để nghề làm khèn không bị mất đi, ông mong muốn các gia đình cho con, cháu học nghề, đưa con cháu đến ông dạy làm khèn.

Khèn Mông không chỉ là một nhạc cụ, mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Mông; thể hiện rõ nét những giá trị tâm linh, tín ngưỡng và truyền thống sâu sắc. Những lớp học của những người “giữ hồn” khèn Mông đã góp phần lan tỏa tình yêu văn hóa, khơi dậy niềm tự hào về bản sắc dân tộc nơi non cao Trạm Tấu./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Lễ hội Hoa Ban Điện Biên hứa hẹn nhiều điểm nhấn mới

Lễ hội Hoa Ban Điện Biên hứa hẹn nhiều điểm nhấn mới

Lễ hội Hoa Ban năm 2026 sẽ được tỉnh Điện Biên tổ chức từ ngày 20 - 26/3 với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, quy mô lớn, diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh. Lễ hội là sự kiện văn hóa - du lịch tiêu biểu, góp phần tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc và quảng bá hình ảnh Điện Biên trong giai đoạn phát triển mới.

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Tạo sức lan tỏa niềm tin, niềm tự hào về Đảng

Chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, từ ngày 10 - 30/1, các đội chiếu phim lưu động thuộc Trung tâm Văn hóa - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức đợt chiếu phim Việt Nam phục vụ đông đảo người dân trên địa bàn tỉnh.

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

“Tà Số - Mùa Xuân về” là chủ đề Chương trình Tết Mông năm 2026 do UBND phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Chương trình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dịp Tết cổ truyền của người Mông, mà còn là dịp để du khách khám phá nét đẹp nguyên sơ của Tà Số.

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng tại phường An Nhơn Bắc là một minh chứng điển hình cho sự bảo tồn và phát triển nghề truyền thống tại Gia Lai. Trải qua hàng trăm năm với nhiều thăng trầm, làng nghề không những không bị mai một mà ngày một phát triển, đã và đang tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

An Giang đang đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số trong văn hóa và bảo tàng để giúp người dân, du khách tiếp cận dễ dàng hơn với các hiện vật, tư liệu. Ban Quản lý di tích văn hoá Óc Eo tỉnh An Giang cũng nhanh chóng xây dựng kế hoạch, triển khai nhiều giải pháp để chuyển đổi số toàn diện hoạt động của Nhà trưng bày Văn hoá Óc Eo và các điểm di tích trọng điểm của Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Sáng 10/1, tại đảo hoa anh đào ở bản Kéo, UBND xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, đã tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng năm 2026, với chủ đề “Mường Phăng vào xuân - Hoa anh đào khoe sắc”. Với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, lễ hội đã thu hút hàng nghìn du khách nô nức đến dự và trải nghiệm.

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nằm ngay bên Quốc lộ 1A, tại xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm là một không gian văn hóa đặc thù, nơi lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những giá trị tiêu biểu của cộng đồng người Chăm. Với hệ thống hiện vật phong phú, không gian trưng bày khoa học cùng nhiều hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa, Trung tâm đang từng bước trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Cồng chiêng ngày nay không chỉ ngân vang trong các lễ hội, mà đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống đương đại. Từ buôn làng đến không gian cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa truyền thống đến các mô hình du lịch trải nghiệm, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng nòng cốt tiếp nối mạch nguồn di sản, gìn giữ và lan tỏa giá trị cồng chiêng Tây Nguyên.

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

An Giang là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ nay đến hết tháng 1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu tới công chúng các hoạt động đón Xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Dù đã cao tuổi, bà Ma Ly (71 tuổi, xã Quảng Lập, Lâm Đồng) vẫn miệt mài duy trì nghề làm gốm truyền thống của dân tộc Churu. Không chỉ cung cấp sản phẩm cho khách hàng, bà Ma Ly còn đón du khách trải nghiệm, truyền dạy nghề gốm truyền thống cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh.

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Ngày 1/1, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức chương trình đón du khách và chuyến bay đầu tiên đến tỉnh Điện Biên năm 2026 tại Cảng Hàng không Điện Biên.

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Trong không khí hân hoan của đồng bào dân tộc Chứt đón Tết Chăm Cha Bới (Tết mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và cầu mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Chứt), ngày 28/12, tại bản Rào Tre (xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức “Ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số” năm 2025.

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Trong tiến trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu, xây dựng và đưa vào sử dụng trang phục sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào Chứt, tỉnh Quảng Trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ lấp đầy “khoảng trống” văn hóa suốt nhiều năm, những bộ áo quần truyền thống được nghiên cứu công phu và trao cho cộng đồng còn tạo nền tảng để các giá trị văn hóa Chứt được gìn giữ, lan tỏa, tiếp nối bền vững trong đời sống đương đại.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

“Đồi thông hai mộ” từ lâu không chỉ là một truyện thơ mà còn là một địa danh nổi tiếng của vùng Mường Động tại xóm Đằng Long, xã Nật Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là miền ký ức văn hóa sâu thẳm của người Mường cổ, lan tỏa không gian cư trú cổ truyền trong không gian sáp nhập mới từ Hòa Bình đến Phú Thọ - nơi những câu chuyện tình, tín ngưỡng và cảnh quan hòa quyện thành nguồn lực du lịch văn hóa đặc sắc.

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Ngày 24/12, tại Đình cổ Hùng Lô - không gian trải nghiệm di sản văn hóa tiêu biểu vùng Đất Tổ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ tổ chức công bố Chương trình Du lịch học đường - Giáo dục di sản văn hóa vùng Đất Tổ.