Văn hóa Chăm là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa đa dạng của Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, hệ thống di sản văn hóa Chăm vẫn lưu giữ những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.
Từ những công trình đền tháp hàng trăm năm tuổi vẫn hiện hữu cùng thời gian đến các giá trị văn hóa phi vật thể được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một kho tàng di sản phong phú và giàu sức sống. Không chỉ là những chứng tích của lịch sử, nhiều đền tháp Chăm ngày nay vẫn là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng, nơi kết nối quá khứ với hiện tại và góp phần gìn giữ “hồn cốt” văn hóa dân tộc Chăm trong dòng chảy phát triển của đất nước.
Từ “chứng nhân lịch sử”...
Đồng bào dân tộc Chăm ở Khánh Hòa và Lâm Đồng hiện có hơn 149 nghìn người; trong đó Khánh Hòa có 106.222 người (chiếm 4,75%); Lâm Đồng có hơn 43.000 người (chiếm khoảng 1,12%). Đồng bào dân tộc Chăm luôn một lòng theo Đảng, luôn đoàn kết cùng 53 dân tộc anh em chung tay xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, phồn vinh và hạnh phúc. Với sự quan tâm hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, sự đoàn kết nỗ lực vượt khó vươn lên, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày một được nâng lên. Kho tàng văn hóa được bảo tồn và phát huy, góp phần tạo nên giá trị sống động về tài nguyên văn hóa trong bối cảnh hội nhập.
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa Chăm đều dùng 2 từ “kỳ diệu” khi diễn tả về xứ sở “những ngọn tháp cổ”. Những ngôi tháp Chăm ở Khánh Hòa và Lâm Đồng đều là “di tích sống”, bởi đó không chỉ là di tích mà còn là nơi để người Chăm hành hương, thực hành tín ngưỡng phồn thực, thờ thần.
Tại Khánh Hòa hiện còn 4 ngôi tháp cổ kính, vẫn trường tồn với thời gian. Điển hình như tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh), Tháp Hòa Lai (xã Thuận Bắc), Tháp Pô Rô Mê (xã Phước Hữu), Tháp Bà Ponagar (phường Bắc Nha Trang). Đây là những quần thể kiến trúc độc đáo, mang đậm nét văn hóa và hơi thở cuộc sống của đồng bào Chăm.
Với những giá trị lịch sử và nghệ thuật vô giá, tháp Pô Klong Garai và tháp Hòa Lai đã được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt vào năm 2016; Tháp Bà Ponagar được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt vào tháng 1/2025. Riêng Tượng thờ vua Pô Klong Garai được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2024.
Ông Đổng Văn Nhường, Phó Trưởng ban Quản lý Di tích Tháp Pô Klong Garai (Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa tỉnh Khánh Hòa) chia sẻ: Trải qua bao thăng trầm của thời gian, tháp Pô Klong Garai được xem là cụm tháp còn tồn tại tương đối nguyên vẹn và đẹp nhất trong số các đền tháp Chăm còn lại ở Việt Nam. Đặc biệt, trong kết cấu xây dựng, việc kết dính các viên gạch để xây dựng tháp cho đến nay vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp. Chính điều này đã làm tăng thêm vẻ huyền bí và trường tồn của công trình.
Còn ở phường Phú Thủy (tỉnh Lâm Đồng), nhóm di tích đền tháp Chăm Pô Sah Inư trên đồi Bà Nài được xây dựng cách đây hơn 1.200 năm. Nhóm tháp gồm một tháp chính và hai tháp phụ, bố cục hài hòa, tạo nên tổng thể kiến trúc thanh thoát và cân đối. Các tầng tháp được tạo hình vươn cao, với hệ thống gờ co bằng gạch chạy quanh thân, vừa mang giá trị trang trí vừa đóng vai trò kết cấu chịu lực. Những vòm cửa giả với hoa văn chạm khắc sâu, liên kết gạch liền mạch tạo cảm giác như được đúc khuôn, thể hiện trình độ kỹ thuật điêu luyện của nghệ nhân Chăm. Nhóm đền tháp này được công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1991.
Việc được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt (tháng 1/2025) là sự thừa nhận xứng đáng cho những giá trị kiến trúc và tâm linh trường tồn của Tháp Bà. Ảnh: Nhật Anh/TTXVN
Không chỉ là di tích kiến trúc, tháp Pô Klong Garai, tháp Chăm Pô Sah Inư còn là một trong những vùng “không gian lõi” để tổ chức các hoạt động lễ hội (lễ hội Katê) của đồng bào Chăm, Raglai. Di sản này góp phần khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong việc tôn vinh sự đa dạng và thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng các dân tộc.
Anh Thông Minh Tranh (xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng) chia sẻ: "Mỗi lần đến tháp Pô Sah Inư, tôi cảm nhận được sự thiêng liêng và bình yên trong tâm hồn. Nơi đây gắn liền với tín ngưỡng và truyền thống của người Chăm, nhắc nhở tôi luôn hướng về tổ tiên, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và cầu mong những điều tốt đẹp cho cộng đồng".
Là một trong những quần thể kiến trúc Chăm nguyên vẹn nhất còn lại, Tháp Bà Ponagar là kho tàng vô giá cho các nhà nghiên cứu. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN
... đến “di sản sống”
Bên cạnh kiến trúc đền, tháp vĩ đại, nét đẹp văn hóa Chăm còn được lưu giữ qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ với các mặt hàng gốm và vải thổ cẩm truyền thống. Những sản phẩm này đã được ra đời, gìn giữ và phát huy giá trị từ ngày đầu khai hoang lập nghiệp cho đến tận ngày nay. Người Chăm xưa quan niệm nghề gốm và nghề dệt được trao truyền từ mẹ sang con gái và từng đóng vai trò như một “thước đo” tiêu chuẩn của người phụ nữ trong xã hội cũ.
Nói đến gốm Chăm, nổi tiếng nhất phải kể đến làng nghề Bàu Trúc (Khánh Hòa), gốm Bình Đức (Lâm Đồng) - nơi mọi công đoạn làm gốm đều được người phụ nữ thực hiện hoàn toàn thủ công và đã trở thành một phần thiết yếu của hồn văn hóa Chăm.
Tháp Bà Ponagar (Khánh Hòa) thu hút du khách với những điệu múa Chăm truyền thống. Ảnh: Nhật Anh/TTXVN
Nguồn nguyên liệu chính là đất sét màu đen xám có độ kết dính cao, được khai thác từ cánh đồng ven sông. Trong quá trình tạo dáng gốm, người phụ nữ Chăm không sử dụng bàn xoay để chế tác như những nơi khác. Họ đi giật lùi, người hơi khum xung quanh hòn kê, dùng hai tay bóp và nặn vào khối đất để tạo hình cho sản phẩm.
Người Chăm không sử dụng lò nung kín mà thực hiện nung gốm lộ thiên, thời điểm tốt nhất là từ tháng 11 đến tháng 7 hoặc tháng 8 năm sau. Trước khi nung, gốm được xếp xen kẽ, tựa vào nhau, kết hợp với các phương pháp thủ công đơn giản để tạo ra màu sắc tự nhiên. Sản phẩm gốm Chăm có đặc điểm xương gốm dày dặn, rắn chắc, khó thấm nước cùng hoa văn trang trí đơn giản gắn liền với đời sống thường ngày.
Nửa thế kỷ gắn bó với nghề, bà Đàng Thị Lẻo ở làng gốm Bàu Trúc luôn ý thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn nghề gốm truyền thống. Từ nhỏ, bà đã theo mẹ đi lấy đất sét, học cách nhào nặn và tạo hình sản phẩm. Sau nhiều năm kiên trì học hỏi, đến khoảng 30 tuổi bà mới thực sự làm chủ tay nghề và bắt đầu tự sáng tạo những sản phẩm mang dấu ấn riêng. Không chỉ duy trì các dòng gốm gia dụng truyền thống, bà Lẻo còn nghiên cứu, cải tiến mẫu mã, làm mới hình thức vẽ hoa văn và đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu và nhu cầu thị trường.
Làng gốm Bình Đức (Lâm Đồng) hiện có 43 hộ với hơn 60 người còn duy trì nghề làm gốm Chăm thường xuyên và khoảng 60 hộ làm theo thời vụ, những lúc cao điểm lễ hội, Tết Nguyên đán. Nghệ nhân Nguyễn Thị Mai (thôn Bình Đức, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) bám trụ với nghề không chỉ vì cuộc sống mưu sinh mà còn để giữ nghề “gia truyền”, giữ cái “hồn” của dân tộc. Theo bà Mai, trước đây các hộ dân trong làng chỉ làm gốm truyền thống như nồi đất, bếp lò… Nhờ chính quyền cho đi học kỹ thuật làm gốm mỹ nghệ ở làng gốm Bàu Trúc nên từ năm 2005 đến nay, gia đình làm thêm đồ mỹ nghệ, đồ trang trí cung cấp cho các quán, cơ sở du lịch, bán cho du khách nên thu nhập ổn định hơn.
Anh Phú Hữu Minh Thuần, Giám đốc Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa) cho biết, nghệ thuật làm gốm của người Chăm đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2022. Đây là tiền đề quan trọng để cộng đồng người Chăm và các cơ quan chức năng cùng tham gia gìn giữ, phát triển. Làng Bàu Trúc được các nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước xem như một bảo tàng gốm Chăm. Vì thế việc phát huy giá trị văn hóa này với du lịch được xem là hướng đi bền vững để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào.
Ông Đinh Hy, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm cho rằng, nghề dệt thổ cẩm của người Chăm không chỉ là câu chuyện của kỹ thuật, mỹ thuật hay những kỹ năng thông thường, mà đã đạt đến trình độ thẩm mỹ và nhãn quan sáng tạo nghệ thuật đỉnh cao. Điểm đặc sắc của nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Chăm là kỹ thuật dệt khổ dài trên khung hẹp, tạo nên những dải hoa văn nhỏ, dài với họa tiết tinh xảo, đòi hỏi kỹ thuật phức tạp cao, thời gian thực hiện kéo dài, yêu cầu người thợ phải có trình độ thẩm mỹ tinh tế và kỹ năng đạt đến độ tinh xảo để tạo nên những sản phẩm hoàn mỹ nhất.
Gìn giữ nét đẹp hàng trăm năm của nghề dệt truyền thống là sự tâm huyết của nhiều thế hệ người dân làng Mỹ Nghiệp. Ông Phú Văn Ngòi, Giám đốc Hợp tác xã dệt Chăm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước) cho biết hiện làng nghề có khoảng 400 hộ dân duy trì nghề dệt. Đối với đồng bào Chăm, vải thổ cẩm không chỉ là vật dụng phục vụ đời sống thường ngày mà còn là biểu tượng văn hóa mang ý nghĩa đặc biệt. Thông qua màu sắc và hoa văn trên từng tấm vải, người ta có thể nhận biết giới tính, địa vị xã hội, chức sắc tôn giáo cũng như những nét đặc trưng trong đời sống văn hóa của cộng đồng.
“Sức sống văn hóa Chăm” còn thể hiện ở đời sống sinh hoạt hằng ngày, từ đời này qua đời khác. Điều đó được thể hiện qua các điệu múa truyền thống, các hợp xướng hát Ayiza hòa quyện cùng tiếng trống Paranưng, tiếng kèn Saranai ngân vang… tạo kết nối bền chặt giữa văn hóa Chăm với văn hóa cộng đồng các dân tộc trong cả nước.
Ngày nay văn hóa Chăm không những lan tỏa rộng khắp cả nước, mà còn vươn tầm thế giới. Từ lễ hội Kate đến các lễ hội Văn hóa Chăm toàn quốc như những năm gần đây là minh chứng sống động cho việc người Chăm không những biết cách gìn giữ “hồn cốt văn hóa”, mà còn biết khai thác, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc.
Ông Đinh Hy nhấn mạnh, giữ được “hồn cốt” văn hóa Chăm chính là làm giàu thêm cho vườn hoa đa sắc văn hóa của đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam, để di sản trăm năm tiếp tục trường tồn, phồn vinh và tỏa sáng trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn