Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.
Tuy nhiên, bước vào nhịp sống hội nhập, mỗi ngôi chùa lại mang một tâm thế khác biệt: Có nơi chủ động kiến tạo không gian để phát triển, lại có nơi lặng lẽ khép mình giữ nếp thanh tu. Sự đa dạng trong góc nhìn này đặt ra bài toán mang tính thời sự: Làm sao để khai thác du lịch, phát triển kinh tế mà không làm phai nhòa hồn cốt của di sản.
Chủ động kiến tạo không gian văn hóa gắn với du lịch tâm linh
Với lịch sử hình thành từ năm 1725, chùa Som Rông (Wath Pôtum Wôngsa Som Rông) chọn cho mình hướng đi chủ động trong việc kiến tạo và mở rộng không gian văn hóa. Nhìn từ góc độ của Ban quản trị chùa, việc phát triển các công trình kiến trúc bề thế không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn là phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh văn hóa Khmer đến với đại chúng.
Chùa Som Rông, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, nổi bật với kiến trúc độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN
Sự cởi mở và chủ động này thể hiện qua việc nhà chùa liên tục tôn tạo, xây dựng các công trình mang đậm dấu ấn nghệ thuật. Điển hình là bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn khổng lồ chiều dài 72m, cao 29m - được xem là bức tượng Phật nằm lớn nhất cả nước. Với các công trình đầy tính nghệ thuật như chánh điện, bảo tháp và hệ thống tượng Phật Đản sanh, Thành đạo, nhà chùa trở thành điểm đến chiêm bái và “check-in” mang tính biểu tượng của tỉnh Sóc Trăng cũ và giờ là thành phố Cần Thơ.
Theo Thượng tọa Lý Đức, Trụ trì chùa Som Rông, những thành tựu trong bảo tồn, tôn tạo các thiết chế văn hóa, kiến trúc cổ tại chùa Som Rông không thể không nhắc đến phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chính quyền địa phương luôn quan tâm, tạo điều kiện cấp phép để các hạng mục trong chùa được sửa chữa, trùng tu, xây dựng mới khang trang hơn. Đáp lại sự quan tâm đó là sự đồng thuận, chung sức của nhân dân. Sư sãi và bà con Phật tử tích cực đóng góp công sức, nguồn lực.
Từ lăng kính của chùa Som Rông, du lịch tâm linh được xem là đòn bẩy thực hiện tốt hơn vai trò phụng sự xã hội. Lượng khách hành hương đông đảo tạo điều kiện thuận lợi để nhà chùa lan tỏa các giá trị tốt đẹp, bài trừ mê tín dị đoan và giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn". Sự phát triển này góp phần giúp nhà chùa huy động được nguồn tịnh tài lớn hỗ trợ hoạt động thiện nguyện, xây nhà tình thương, cấp phát học bổng và chăm lo đời sống cho bà con khó khăn. Du lịch, trong trường hợp này được nhà chùa nhìn nhận như một phương tiện hữu hiệu để thắt chặt khối đại đoàn kết và thúc đẩy kinh tế cộng đồng địa phương.
Giữ gìn cốt lõi tu học, vạn sự tùy duyên
Nép mình dưới những tán cây cổ thụ, chùa Dơi (Wath Mahâtúp) từ lâu được biết đến như một công trình kiến trúc Khmer cổ kính hòa quyện hoàn hảo cùng hệ sinh thái tự nhiên độc đáo. Ở thời kỳ hoàng kim, di tích quốc gia này là "thương hiệu" du lịch rực rỡ bậc nhất của vùng, thu hút dòng khách thập phương nườm nượp đổ về chiêm bái và tận mắt chứng kiến bầy dơi quạ khổng lồ treo mình trên bạt ngàn vòm lá.
Tuy nhiên, theo dòng thời gian cùng nhiều biến động thăng trầm về cảnh quan và môi trường sinh thái, lượng khách du lịch nội địa cũng có phần sụt giảm đáng kể. Dù đã qua thời kỳ đỉnh cao nhộn nhịp, bước vào hiện tại, không gian tĩnh lặng và nét hoang sơ nguyên bản của chùa Dơi vẫn duy trì được sức hút riêng biệt; trong đó, chùa vẫn đón lượng khách tương đối ổn định, đa phần là du khách quốc tế tìm đến khám phá văn hóa, tín ngưỡng bản địa.
Chia sẻ về vấn đề phát triển du lịch, Thượng tọa Lâm Tú Linh, Phó Trụ trì chùa Dơi có một góc nhìn chân phương: Thực tế đối với những người tu hành, nhà chùa không có định hướng gì liên quan đến phát triển du lịch. Thay vào đó, trọng tâm của các sư là tập trung tu tập, sao cho sống tốt đời đẹp đạo. Nhà chùa vẫn duy trì việc tổ chức các ngày lễ cổ truyền như Chol Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok… nhằm gìn giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Tâm thế của nhà chùa trước dòng khách du lịch là sự hoan hỷ nhưng không cưỡng cầu.
Ngôi chánh điện cổ kính của chùa Dơi vẫn giữ được những nét hoang sơ nguyên bản sau khi được phục dựng. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN
Theo Thượng tọa Lâm Tú Linh, sức hút của chùa Dơi đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế xuất phát từ không gian xanh mát, nét kiến trúc hoang sơ và đặc biệt là hệ sinh thái tự nhiên - nơi trú ngụ của bầy dơi. Dù hiện nay số lượng dơi đã suy giảm nặng nề, cảnh quan nguyên sơ này vẫn phù hợp với sở thích khám phá của khách phương xa.
Không chủ đích "làm du lịch" không đồng nghĩa với việc nhà chùa tách rời khỏi cộng đồng. Chùa Dơi đang triển khai các giải pháp lan tỏa di sản phi vật thể, chẳng hạn như bố trí không gian nhạc ngũ âm trong khuôn viên phục vụ du khách. Nhà chùa còn sở hữu những chất liệu văn hóa dân gian độc đáo như câu chuyện về "heo (lợn) 5 móng" - nguồn cảm hứng từng thu hút đoàn làm phim đến tìm hiểu.
Tuy nhiên, từ góc nhìn của các chùa, sự biến động của du lịch cũng mang lại những trăn trở về sinh kế đồng bào. Lượng khách du lịch những năm gần đây có phần giảm sút đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế của cộng đồng dân cư xung quanh, đặc biệt là những tiểu thương mưu sinh dựa vào việc bán các lễ vật cúng, sản vật địa phương quanh chùa.
Quy hoạch đồng bộ, hài hòa bảo tồn và phát triển
Du khách trải nghiệm tại khuôn viên sinh thái xanh mát tại chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN
Nhìn nhận về bức tranh tổng thể, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ Sầm Long Giang khẳng định, các thiết chế văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer là nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc, mang giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Việc khai thác hiệu quả hệ thống chùa cùng các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer góp phần quan trọng đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm của thành phố.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, bước đi cần thiết trước mắt là phải khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng thực trạng và điều kiện kết nối. Kết quả này sẽ làm cơ sở vững chắc để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, đề xuất chính sách hỗ trợ thiết thực: Từ việc đưa các chương trình biểu diễn nghệ thuật vào phục vụ tại lễ hội, gắn kết nghệ nhân và cộng đồng dân cư vào chuỗi sản phẩm du lịch cho đến đẩy mạnh số hóa tư liệu, truyền thông quảng bá di sản Khmer đến đông đảo du khách.
Du lịch góp phần tạo thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ phụ trợ cho cộng đồng dân cư quanh chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN
Để giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, ông Sầm Long Giang cho biết, thời gian tới, Sở tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ sở tôn giáo triển khai bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch dành cho khách tham quan tại các điểm tâm linh. Việc khai thác du lịch phải hướng dẫn du khách thực hiện đúng quy định về trang phục, hạn chế hoạt động ảnh hưởng đến sinh hoạt tôn giáo và tuyệt đối không tổ chức dịch vụ mang tính thương mại trong khu vực thờ tự. Ngành tăng cường tập huấn cho đội ngũ hướng dẫn viên, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ di sản.
Ngành du lịch thành phố chủ trương gắn kết lợi ích cộng đồng vào định hướng phát triển bền vững. Cụ thể, Sở đẩy nhanh công tác phối hợp liên ngành nhằm trang bị, nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng cho người dân. Phát triển sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ và ẩm thực truyền thống dọc tuyến tham quan chùa cũng được xúc tiến mạnh mẽ, đi đôi với việc nhanh chóng kết nối doanh nghiệp lữ hành thu hút du khách đến trải nghiệm, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp tạo thu nhập ổn định cho bà con.
Phát triển du lịch từ lăng kính của các chùa Phật giáo Nam tông Khmer không phải là một lăng kính đơn sắc. Dù tiếp cận theo cách thức chủ động kiến tạo hay tĩnh tại tùy duyên, cả hai góc nhìn này đều tựu trung ở một điểm: Các di sản tôn giáo không tồn tại độc lập mà luôn đan xen và gắn bó máu thịt với đời sống văn hóa, tinh thần và sinh kế của đồng bào phum sóc. Hiểu thấu đáo góc nhìn từ phía các chùa kết hợp cùng sự định hướng quy hoạch tinh tế, bảo tồn văn minh từ cơ quan quản lý chính là chìa khóa để ngành du lịch địa phương có những bước đi bền vững và nhân văn hơn trong tương lai./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn