Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.

nam-rong-2306.jpg
Chùa Som Rông tọa lạc tại phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Tuy nhiên, bước vào nhịp sống hội nhập, mỗi ngôi chùa lại mang một tâm thế khác biệt: Có nơi chủ động kiến tạo không gian để phát triển, lại có nơi lặng lẽ khép mình giữ nếp thanh tu. Sự đa dạng trong góc nhìn này đặt ra bài toán mang tính thời sự: Làm sao để khai thác du lịch, phát triển kinh tế mà không làm phai nhòa hồn cốt của di sản.

Chủ động kiến tạo không gian văn hóa gắn với du lịch tâm linh

Với lịch sử hình thành từ năm 1725, chùa Som Rông (Wath Pôtum Wôngsa Som Rông) chọn cho mình hướng đi chủ động trong việc kiến tạo và mở rộng không gian văn hóa. Nhìn từ góc độ của Ban quản trị chùa, việc phát triển các công trình kiến trúc bề thế không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn là phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh văn hóa Khmer đến với đại chúng.

Chùa Som Rông, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, nổi bật với kiến trúc độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Chùa Som Rông, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, nổi bật với kiến trúc độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Sự cởi mở và chủ động này thể hiện qua việc nhà chùa liên tục tôn tạo, xây dựng các công trình mang đậm dấu ấn nghệ thuật. Điển hình là bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn khổng lồ chiều dài 72m, cao 29m - được xem là bức tượng Phật nằm lớn nhất cả nước. Với các công trình đầy tính nghệ thuật như chánh điện, bảo tháp và hệ thống tượng Phật Đản sanh, Thành đạo, nhà chùa trở thành điểm đến chiêm bái và “check-in” mang tính biểu tượng của tỉnh Sóc Trăng cũ và giờ là thành phố Cần Thơ.

Theo Thượng tọa Lý Đức, Trụ trì chùa Som Rông, những thành tựu trong bảo tồn, tôn tạo các thiết chế văn hóa, kiến trúc cổ tại chùa Som Rông không thể không nhắc đến phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chính quyền địa phương luôn quan tâm, tạo điều kiện cấp phép để các hạng mục trong chùa được sửa chữa, trùng tu, xây dựng mới khang trang hơn. Đáp lại sự quan tâm đó là sự đồng thuận, chung sức của nhân dân. Sư sãi và bà con Phật tử tích cực đóng góp công sức, nguồn lực.

nam-rong2-2306.jpg
Ngôi Sala, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt tôn giáo quan trọng. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Từ lăng kính của chùa Som Rông, du lịch tâm linh được xem là đòn bẩy thực hiện tốt hơn vai trò phụng sự xã hội. Lượng khách hành hương đông đảo tạo điều kiện thuận lợi để nhà chùa lan tỏa các giá trị tốt đẹp, bài trừ mê tín dị đoan và giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn". Sự phát triển này góp phần giúp nhà chùa huy động được nguồn tịnh tài lớn hỗ trợ hoạt động thiện nguyện, xây nhà tình thương, cấp phát học bổng và chăm lo đời sống cho bà con khó khăn. Du lịch, trong trường hợp này được nhà chùa nhìn nhận như một phương tiện hữu hiệu để thắt chặt khối đại đoàn kết và thúc đẩy kinh tế cộng đồng địa phương.

Giữ gìn cốt lõi tu học, vạn sự tùy duyên

chua-khmer.jpg
Rắn thần Naga, hình tượng phổ biến trong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Nép mình dưới những tán cây cổ thụ, chùa Dơi (Wath Mahâtúp) từ lâu được biết đến như một công trình kiến trúc Khmer cổ kính hòa quyện hoàn hảo cùng hệ sinh thái tự nhiên độc đáo. Ở thời kỳ hoàng kim, di tích quốc gia này là "thương hiệu" du lịch rực rỡ bậc nhất của vùng, thu hút dòng khách thập phương nườm nượp đổ về chiêm bái và tận mắt chứng kiến bầy dơi quạ khổng lồ treo mình trên bạt ngàn vòm lá.

Tuy nhiên, theo dòng thời gian cùng nhiều biến động thăng trầm về cảnh quan và môi trường sinh thái, lượng khách du lịch nội địa cũng có phần sụt giảm đáng kể. Dù đã qua thời kỳ đỉnh cao nhộn nhịp, bước vào hiện tại, không gian tĩnh lặng và nét hoang sơ nguyên bản của chùa Dơi vẫn duy trì được sức hút riêng biệt; trong đó, chùa vẫn đón lượng khách tương đối ổn định, đa phần là du khách quốc tế tìm đến khám phá văn hóa, tín ngưỡng bản địa.

Chia sẻ về vấn đề phát triển du lịch, Thượng tọa Lâm Tú Linh, Phó Trụ trì chùa Dơi có một góc nhìn chân phương: Thực tế đối với những người tu hành, nhà chùa không có định hướng gì liên quan đến phát triển du lịch. Thay vào đó, trọng tâm của các sư là tập trung tu tập, sao cho sống tốt đời đẹp đạo. Nhà chùa vẫn duy trì việc tổ chức các ngày lễ cổ truyền như Chol Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok… nhằm gìn giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Tâm thế của nhà chùa trước dòng khách du lịch là sự hoan hỷ nhưng không cưỡng cầu.

Ngôi chánh điện cổ kính của chùa Dơi vẫn giữ được những nét hoang sơ nguyên bản sau khi được phục dựng. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Ngôi chánh điện cổ kính của chùa Dơi vẫn giữ được những nét hoang sơ nguyên bản sau khi được phục dựng. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Theo Thượng tọa Lâm Tú Linh, sức hút của chùa Dơi đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế xuất phát từ không gian xanh mát, nét kiến trúc hoang sơ và đặc biệt là hệ sinh thái tự nhiên - nơi trú ngụ của bầy dơi. Dù hiện nay số lượng dơi đã suy giảm nặng nề, cảnh quan nguyên sơ này vẫn phù hợp với sở thích khám phá của khách phương xa.

Không chủ đích "làm du lịch" không đồng nghĩa với việc nhà chùa tách rời khỏi cộng đồng. Chùa Dơi đang triển khai các giải pháp lan tỏa di sản phi vật thể, chẳng hạn như bố trí không gian nhạc ngũ âm trong khuôn viên phục vụ du khách. Nhà chùa còn sở hữu những chất liệu văn hóa dân gian độc đáo như câu chuyện về "heo (lợn) 5 móng" - nguồn cảm hứng từng thu hút đoàn làm phim đến tìm hiểu.

Tuy nhiên, từ góc nhìn của các chùa, sự biến động của du lịch cũng mang lại những trăn trở về sinh kế đồng bào. Lượng khách du lịch những năm gần đây có phần giảm sút đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế của cộng đồng dân cư xung quanh, đặc biệt là những tiểu thương mưu sinh dựa vào việc bán các lễ vật cúng, sản vật địa phương quanh chùa.

Quy hoạch đồng bộ, hài hòa bảo tồn và phát triển

Du khách trải nghiệm tại khuôn viên sinh thái xanh mát tại chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Du khách trải nghiệm tại khuôn viên sinh thái xanh mát tại chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Nhìn nhận về bức tranh tổng thể, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ Sầm Long Giang khẳng định, các thiết chế văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer là nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc, mang giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Việc khai thác hiệu quả hệ thống chùa cùng các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer góp phần quan trọng đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm của thành phố.

Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, bước đi cần thiết trước mắt là phải khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng thực trạng và điều kiện kết nối. Kết quả này sẽ làm cơ sở vững chắc để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, đề xuất chính sách hỗ trợ thiết thực: Từ việc đưa các chương trình biểu diễn nghệ thuật vào phục vụ tại lễ hội, gắn kết nghệ nhân và cộng đồng dân cư vào chuỗi sản phẩm du lịch cho đến đẩy mạnh số hóa tư liệu, truyền thông quảng bá di sản Khmer đến đông đảo du khách.

Du lịch góp phần tạo thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ phụ trợ cho cộng đồng dân cư quanh chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Du lịch góp phần tạo thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ phụ trợ cho cộng đồng dân cư quanh chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Để giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, ông Sầm Long Giang cho biết, thời gian tới, Sở tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ sở tôn giáo triển khai bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch dành cho khách tham quan tại các điểm tâm linh. Việc khai thác du lịch phải hướng dẫn du khách thực hiện đúng quy định về trang phục, hạn chế hoạt động ảnh hưởng đến sinh hoạt tôn giáo và tuyệt đối không tổ chức dịch vụ mang tính thương mại trong khu vực thờ tự. Ngành tăng cường tập huấn cho đội ngũ hướng dẫn viên, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ di sản.

Ngành du lịch thành phố chủ trương gắn kết lợi ích cộng đồng vào định hướng phát triển bền vững. Cụ thể, Sở đẩy nhanh công tác phối hợp liên ngành nhằm trang bị, nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng cho người dân. Phát triển sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ và ẩm thực truyền thống dọc tuyến tham quan chùa cũng được xúc tiến mạnh mẽ, đi đôi với việc nhanh chóng kết nối doanh nghiệp lữ hành thu hút du khách đến trải nghiệm, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp tạo thu nhập ổn định cho bà con.

Phát triển du lịch từ lăng kính của các chùa Phật giáo Nam tông Khmer không phải là một lăng kính đơn sắc. Dù tiếp cận theo cách thức chủ động kiến tạo hay tĩnh tại tùy duyên, cả hai góc nhìn này đều tựu trung ở một điểm: Các di sản tôn giáo không tồn tại độc lập mà luôn đan xen và gắn bó máu thịt với đời sống văn hóa, tinh thần và sinh kế của đồng bào phum sóc. Hiểu thấu đáo góc nhìn từ phía các chùa kết hợp cùng sự định hướng quy hoạch tinh tế, bảo tồn văn minh từ cơ quan quản lý chính là chìa khóa để ngành du lịch địa phương có những bước đi bền vững và nhân văn hơn trong tương lai./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Thôn Bằng Cả, xã Quảng La là nơi có trên 97% dân số là đồng bào Dao Thanh Y. Cộng đồng nơi đây được hình thành từ khoảng 300 năm trước và đến nay vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa đặc sắc.

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Trải dài từ những dấu tích văn hóa hàng nghìn năm trước đến các căn cứ cách mạng ghi dấu những thời khắc lịch sử của dân tộc, hệ thống di tích ở Tây Ninh đang được bảo tồn, phát huy giá trị, góp phần gìn giữ, lan tỏa bản sắc văn hóa địa phương; đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Sáng 2/8, trong khuôn khổ Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết năm 2026, nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân, ngư dân và du khách tham gia. Đây là nghi thức tiêu biểu của lễ hội, phản ánh tín ngưỡng thờ Cá Ông và đời sống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân vùng biển Lâm Đồng.

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.