Đồng bào dân tộc Dao ở xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao, nhất là việc gìn giữ tiếng nói, trang phục, nghề thêu, dân ca và các nghi lễ truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng... Đây cũng là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Bảo tồn giá trị văn hóa độc đáo
Nằm dưới sườn Tây của núi Yên Tử, bản người Dao ở xã Tây Yên Tử từ lâu được biết đến là nơi lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Tại Nhà văn hóa thôn Mậu, xã Tây Yên Tử, những ngày này thường bắt gặp hình ảnh các bà, các mẹ miệt mài bên khung thêu, tỉ mẩn tạo nên những chiếc khăn, áo, váy với hoa văn rực rỡ sắc màu.
Theo bà Bàn Thị Bình, ngày trước, các bé gái người Dao từ 5 - 6 tuổi đã được bà, mẹ dạy cách cầm kim, xâu chỉ và học những đường thêu đầu tiên. Hằng năm, mỗi người ít nhất phải tự tay thêu được vài đồ dùng cho mình để diện vào các ngày lễ, Tết. Những bộ trang phục ấy không chỉ là vật dụng thường ngày mà còn là hành trang quý giá theo các cô gái về nhà chồng. Vào những ngày hội, phiên chợ xuân, các thiếu nữ Dao lại khoác lên mình những bộ váy áo do chính tay mình thêu may, cùng những món trang sức bạc truyền thống, tạo nên sắc màu văn hóa riêng có của vùng cao Tây Yên Tử.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống hiện đại, nghề thêu truyền thống của người Dao đang đứng trước nguy cơ mai một. Ngày nay, số người còn kiên trì gắn bó và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ không còn nhiều.
Dù tuổi đã cao, mắt đã mờ và đôi tay không còn nhanh nhẹn như trước, nhưng bà Bàn Thị Bình vẫn đều đặn cầm kim mỗi ngày. Bà cho biết, từ năm 10 tuổi đã được mẹ hướng dẫn kỹ thuật may, thêu. Ngày ấy, mỗi khi rảnh rỗi, bà lại cùng bạn bè trong bản ngồi thêu bên nhau. Theo bà, nghề thêu không chỉ đòi hỏi sự khéo léo mà còn cần tính kiên trì, tập trung cao độ, bởi chỉ cần sai một mũi kim cũng phải tháo ra làm lại từ đầu. Từ đó đến nay, nghề thêu đã đi theo bà hơn 70 năm, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Để truyền nghề cho lớp trẻ, năm 2012, bà Bàn Thị Bình cùng một số người cao tuổi trong bản đứng ra thành lập Câu lạc bộ truyền dạy nghề thêu miễn phí. Vào những ngày cuối tuần, dịp nghỉ hè, các thành viên trong Câu lạc bộ lại đi đến từng nhà, tuyên truyền, vận động người dân cho con em theo học nghề truyền thống.
Cùng với bảo tồn nghề thêu, những người Dao ở Tây Yên Tử thường xuyên thực hành điệu múa chuông truyền thống. Theo chị Lý Thị Hội, thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử, chị đã học múa chuông được nhiều năm nay. Là người dân tộc Dao chị mong muốn lưu giữ, thực hành những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Những điệu múa chuông mang vũ điệu linh thiêng, thường được sử dụng trong nhiều nghi lễ truyền thống, đặc biệt là được dùng trong lễ cấp sắc (một nghi lễ quan trọng đối với đàn ông dân tộc Dao). Tín ngưỡng này là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc trưng của dân tộc và trở thành nhu cầu trong sinh hoạt văn hóa tâm linh, giúp người Dao gửi gắm niềm tin, ước vọng của mình.
Trong điệu múa chuông, chiếc chuông nhỏ bằng đồng là đạo cụ chính để tạo thành nhạc điệu nhịp nhàng, rộn ràng, khỏe khoắn. Mỗi bài múa đều có giai điệu, tiết tấu riêng và ý nghĩa khác nhau, gắn với từng nghi lễ trong đời sống cộng đồng. Trong lễ cấp sắc, điệu múa chuông thường do thầy cúng và các nam thanh niên thực hiện, kết hợp với lời khấn, mang ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện niềm vui và sự trưởng thành của người được cấp sắc. Trong các nghi lễ như đám tang, lễ giải hạn hay làm vía, điệu múa mang ý nghĩa xua đuổi tà ma, tiễn biệt người đã khuất, đồng thời cầu mong bình an, sức khỏe cho những người còn sống.
Vào các lễ hội đầu năm, điệu múa chuông thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; còn dịp cuối năm là lời tạ ơn tổ tiên, thần linh sau một năm lao động, sản xuất đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Qua nhiều thế hệ, điệu múa chuông không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng mà còn là di sản văn hóa góp phần gìn giữ bản sắc độc đáo của đồng bào Dao.
Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng
Múa chuông là vũ điệu tâm linh linh thiêng gắn liền với đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Dao.
Được thiên nhiên ưu đãi cùng bản sắc truyền thống văn hóa, thôn Mậu có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, trải nghiệm. Hiện nay, thôn Mậu có 356 hộ với hơn 1.300 nhân khẩu, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao. Người Dao có kho tàng văn hóa phong phú với tiếng nói, dân ca, nghề thêu, phong tục tập quán và nhiều tri thức dân gian quý giá. Đây chính là “tài sản vô giá” để địa phương phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, gắn bảo tồn văn hóa với nâng cao đời sống người dân.
Chia sẻ về những khó khăn trong công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Dao gắn với phát triển du lịch cộng đồng, anh Triệu Hữu Hà, thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử cho biết, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Người dân chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng làm du lịch nên năng lực tổ chức, phục vụ du khách còn yếu; thiếu tính liên kết trong xây dựng chuỗi giá trị giữa du lịch cộng đồng gắn với các sản phẩm OCOP; hoạt động còn nhỏ lẻ, mang tính tự phát. Anh Triệu Hữu Hà đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương có chính sách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào người Dao từ những hoạt động cụ thể, gắn với đời sống, phong tục như: sưu tầm, phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, làn điệu dân ca; khuyến khích việc mặc trang phục dân tộc trong các dịp lễ, sự kiện; mở rộng các câu lạc bộ dạy nghề thủ công truyền thống; đưa giáo dục văn hóa dân tộc vào trường học giúp thế hệ trẻ tự hào và ý thức bảo tồn bản sắc. Cùng với đó, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng vùng cao Tây Yên Tử như trải nghiệm “một ngày làm người Dao Tây Yên Tử” thông qua hoạt động leo núi, khám phá rừng già, hái thuốc nam…
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Tây Yên Tử Lê Đức Thắng cho biết: Xã có diện tích tự nhiên hơn 132 km², dân số hơn 10.600 người, gồm 11 thôn. Do đặc thù miền núi, địa hình rộng, chia cắt, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, xuất phát điểm kinh tế thấp cho nên Tây Yên Tử vẫn thuộc diện xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Ninh. Nhưng với quyết tâm biến khó khăn thành lợi thế, nhất là tận dụng tài nguyên rừng rộng lớn hơn 10 nghìn ha, giá trị văn hóa bản địa, giá trị tâm linh đặc sắc gắn với không gian Yên Tử cùng truyền thống đoàn kết, cần cù của người dân, xã Tây Yên Tử đang chuyển mình mạnh mẽ, bộ mặt nông thôn mới ngày một khang trang, xanh, sạch, đẹp.
Phụ nữ Dao ở Tây Yên Tử mặc trang phục truyền thống.
Đến nay, khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử và du lịch cộng đồng thu hút hơn 200 nghìn lượt khách mỗi năm. Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đồng bào dân tộc Dao, địa phương phấn đấu ngay trong năm 2026 nâng mức bố trí ngân sách dành cho văn hóa lên tối thiểu 2% tổng chi ngân sách xã hằng năm và tăng dần theo yêu cầu thực tế. Nhất là gắn kết bảo tồn văn hóa với quản lý, bảo vệ rừng, làm giàu hệ sinh thái du lịch và bản sắc địa phương, đồng thời chú trọng phát triển du lịch văn hóa cộng đồng, khai thác các giá trị bản sắc của đồng bào người Dao gắn với sinh kế dưới tán rừng.
Để phát huy tiềm năng, lợi thế của khu vực Tây Yên Tử, Bí thư xã Tây Yên Tử kiến nghị tỉnh Bắc Ninh quan tâm đầu tư tuyến đường tỉnh ĐT.291 kéo dài kết nối với tỉnh Quảng Ninh, góp phần phá thế độc đạo của Quốc lộ 279 hiện nay. Tuyến đường sau khi hoàn thành sẽ tăng cường kết nối liên vùng giữa Bắc Ninh và Quảng Ninh, tạo động lực phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, du lịch, dịch vụ khu vực Tây Yên Tử; đồng thời, hình thành trục liên kết không gian du lịch tâm linh, sinh thái đặc sắc của vùng Đông Bắc, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hiện thực hóa mục tiêu đưa Bắc Ninh tiến gần hơn với biển./.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn