Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Đồng bào dân tộc Dao ở xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao, nhất là việc gìn giữ tiếng nói, trang phục, nghề thêu, dân ca và các nghi lễ truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng... Đây cũng là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

dan-toc-dao-200626-3.jpg
Nghề thêu truyền thống của đồng bào Dao, xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh.

Bảo tồn giá trị văn hóa độc đáo

Nằm dưới sườn Tây của núi Yên Tử, bản người Dao ở xã Tây Yên Tử từ lâu được biết đến là nơi lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Tại Nhà văn hóa thôn Mậu, xã Tây Yên Tử, những ngày này thường bắt gặp hình ảnh các bà, các mẹ miệt mài bên khung thêu, tỉ mẩn tạo nên những chiếc khăn, áo, váy với hoa văn rực rỡ sắc màu.

Theo bà Bàn Thị Bình, ngày trước, các bé gái người Dao từ 5 - 6 tuổi đã được bà, mẹ dạy cách cầm kim, xâu chỉ và học những đường thêu đầu tiên. Hằng năm, mỗi người ít nhất phải tự tay thêu được vài đồ dùng cho mình để diện vào các ngày lễ, Tết. Những bộ trang phục ấy không chỉ là vật dụng thường ngày mà còn là hành trang quý giá theo các cô gái về nhà chồng. Vào những ngày hội, phiên chợ xuân, các thiếu nữ Dao lại khoác lên mình những bộ váy áo do chính tay mình thêu may, cùng những món trang sức bạc truyền thống, tạo nên sắc màu văn hóa riêng có của vùng cao Tây Yên Tử.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống hiện đại, nghề thêu truyền thống của người Dao đang đứng trước nguy cơ mai một. Ngày nay, số người còn kiên trì gắn bó và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ không còn nhiều.

Dù tuổi đã cao, mắt đã mờ và đôi tay không còn nhanh nhẹn như trước, nhưng bà Bàn Thị Bình vẫn đều đặn cầm kim mỗi ngày. Bà cho biết, từ năm 10 tuổi đã được mẹ hướng dẫn kỹ thuật may, thêu. Ngày ấy, mỗi khi rảnh rỗi, bà lại cùng bạn bè trong bản ngồi thêu bên nhau. Theo bà, nghề thêu không chỉ đòi hỏi sự khéo léo mà còn cần tính kiên trì, tập trung cao độ, bởi chỉ cần sai một mũi kim cũng phải tháo ra làm lại từ đầu. Từ đó đến nay, nghề thêu đã đi theo bà hơn 70 năm, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Để truyền nghề cho lớp trẻ, năm 2012, bà Bàn Thị Bình cùng một số người cao tuổi trong bản đứng ra thành lập Câu lạc bộ truyền dạy nghề thêu miễn phí. Vào những ngày cuối tuần, dịp nghỉ hè, các thành viên trong Câu lạc bộ lại đi đến từng nhà, tuyên truyền, vận động người dân cho con em theo học nghề truyền thống.

Cùng với bảo tồn nghề thêu, những người Dao ở Tây Yên Tử thường xuyên thực hành điệu múa chuông truyền thống. Theo chị Lý Thị Hội, thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử, chị đã học múa chuông được nhiều năm nay. Là người dân tộc Dao chị mong muốn lưu giữ, thực hành những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Những điệu múa chuông mang vũ điệu linh thiêng, thường được sử dụng trong nhiều nghi lễ truyền thống, đặc biệt là được dùng trong lễ cấp sắc (một nghi lễ quan trọng đối với đàn ông dân tộc Dao). Tín ngưỡng này là một loại hình sinh hoạt văn hóa đặc trưng của dân tộc và trở thành nhu cầu trong sinh hoạt văn hóa tâm linh, giúp người Dao gửi gắm niềm tin, ước vọng của mình.

Trong điệu múa chuông, chiếc chuông nhỏ bằng đồng là đạo cụ chính để tạo thành nhạc điệu nhịp nhàng, rộn ràng, khỏe khoắn. Mỗi bài múa đều có giai điệu, tiết tấu riêng và ý nghĩa khác nhau, gắn với từng nghi lễ trong đời sống cộng đồng. Trong lễ cấp sắc, điệu múa chuông thường do thầy cúng và các nam thanh niên thực hiện, kết hợp với lời khấn, mang ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện niềm vui và sự trưởng thành của người được cấp sắc. Trong các nghi lễ như đám tang, lễ giải hạn hay làm vía, điệu múa mang ý nghĩa xua đuổi tà ma, tiễn biệt người đã khuất, đồng thời cầu mong bình an, sức khỏe cho những người còn sống.

Vào các lễ hội đầu năm, điệu múa chuông thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; còn dịp cuối năm là lời tạ ơn tổ tiên, thần linh sau một năm lao động, sản xuất đạt nhiều kết quả tốt đẹp. Qua nhiều thế hệ, điệu múa chuông không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng mà còn là di sản văn hóa góp phần gìn giữ bản sắc độc đáo của đồng bào Dao.

Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng

Múa chuông là vũ điệu tâm linh linh thiêng gắn liền với đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Dao.

Múa chuông là vũ điệu tâm linh linh thiêng gắn liền với đời sống tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Dao.

Được thiên nhiên ưu đãi cùng bản sắc truyền thống văn hóa, thôn Mậu có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, trải nghiệm. Hiện nay, thôn Mậu có 356 hộ với hơn 1.300 nhân khẩu, trong đó chủ yếu là đồng bào Dao. Người Dao có kho tàng văn hóa phong phú với tiếng nói, dân ca, nghề thêu, phong tục tập quán và nhiều tri thức dân gian quý giá. Đây chính là “tài sản vô giá” để địa phương phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, gắn bảo tồn văn hóa với nâng cao đời sống người dân.

Chia sẻ về những khó khăn trong công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Dao gắn với phát triển du lịch cộng đồng, anh Triệu Hữu Hà, thôn Thanh Chung, xã Tây Yên Tử cho biết, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Người dân chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng làm du lịch nên năng lực tổ chức, phục vụ du khách còn yếu; thiếu tính liên kết trong xây dựng chuỗi giá trị giữa du lịch cộng đồng gắn với các sản phẩm OCOP; hoạt động còn nhỏ lẻ, mang tính tự phát. Anh Triệu Hữu Hà đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương có chính sách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đồng bào người Dao từ những hoạt động cụ thể, gắn với đời sống, phong tục như: sưu tầm, phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống, trò chơi dân gian, làn điệu dân ca; khuyến khích việc mặc trang phục dân tộc trong các dịp lễ, sự kiện; mở rộng các câu lạc bộ dạy nghề thủ công truyền thống; đưa giáo dục văn hóa dân tộc vào trường học giúp thế hệ trẻ tự hào và ý thức bảo tồn bản sắc. Cùng với đó, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng vùng cao Tây Yên Tử như trải nghiệm “một ngày làm người Dao Tây Yên Tử” thông qua hoạt động leo núi, khám phá rừng già, hái thuốc nam…

Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Tây Yên Tử Lê Đức Thắng cho biết: Xã có diện tích tự nhiên hơn 132 km², dân số hơn 10.600 người, gồm 11 thôn. Do đặc thù miền núi, địa hình rộng, chia cắt, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, xuất phát điểm kinh tế thấp cho nên Tây Yên Tử vẫn thuộc diện xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Ninh. Nhưng với quyết tâm biến khó khăn thành lợi thế, nhất là tận dụng tài nguyên rừng rộng lớn hơn 10 nghìn ha, giá trị văn hóa bản địa, giá trị tâm linh đặc sắc gắn với không gian Yên Tử cùng truyền thống đoàn kết, cần cù của người dân, xã Tây Yên Tử đang chuyển mình mạnh mẽ, bộ mặt nông thôn mới ngày một khang trang, xanh, sạch, đẹp.

Phụ nữ Dao ở Tây Yên Tử mặc trang phục truyền thống.

Phụ nữ Dao ở Tây Yên Tử mặc trang phục truyền thống.

Đến nay, khu du lịch tâm linh sinh thái Tây Yên Tử và du lịch cộng đồng thu hút hơn 200 nghìn lượt khách mỗi năm. Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đồng bào dân tộc Dao, địa phương phấn đấu ngay trong năm 2026 nâng mức bố trí ngân sách dành cho văn hóa lên tối thiểu 2% tổng chi ngân sách xã hằng năm và tăng dần theo yêu cầu thực tế. Nhất là gắn kết bảo tồn văn hóa với quản lý, bảo vệ rừng, làm giàu hệ sinh thái du lịch và bản sắc địa phương, đồng thời chú trọng phát triển du lịch văn hóa cộng đồng, khai thác các giá trị bản sắc của đồng bào người Dao gắn với sinh kế dưới tán rừng.

Để phát huy tiềm năng, lợi thế của khu vực Tây Yên Tử, Bí thư xã Tây Yên Tử kiến nghị tỉnh Bắc Ninh quan tâm đầu tư tuyến đường tỉnh ĐT.291 kéo dài kết nối với tỉnh Quảng Ninh, góp phần phá thế độc đạo của Quốc lộ 279 hiện nay. Tuyến đường sau khi hoàn thành sẽ tăng cường kết nối liên vùng giữa Bắc Ninh và Quảng Ninh, tạo động lực phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, du lịch, dịch vụ khu vực Tây Yên Tử; đồng thời, hình thành trục liên kết không gian du lịch tâm linh, sinh thái đặc sắc của vùng Đông Bắc, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hiện thực hóa mục tiêu đưa Bắc Ninh tiến gần hơn với biển./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Cao Bằng được biết đến là quê hương của hát then, đàn tính. Để lời then tiếng tính không chỉ vang lên ở mỗi nếp nhà, mà còn lan tỏa sâu rộng, những nghệ nhân, người truyền lửa cùng sự định hướng của ngành du lịch và chính quyền các cấp đã góp phần gìn giữ giá trị bền vững của quê hương giữa dòng chảy hiện đại.

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với các chuyên gia Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông. Đây là hoạt động quan trọng nhằm rà soát việc thực hiện các khuyến nghị của UNESCO, chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định danh hiệu dự kiến diễn ra vào năm 2027.

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Sáng 2/6, Ban tổ chức Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Lai Châu tổ chức lễ phát động cuộc thi với chủ đề “Lai Châu - Mạch nguồn văn hóa, tiềm năng, động lực phát triển”. Lễ phát động được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến từ điểm cầu tỉnh đến điểm cầu 36 xã, phường trong tỉnh.

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Tại thành phố Cần Thơ, Phật giáo Nam tông tiếp tục thể hiện rõ vai trò trụ cột trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Không chỉ là điểm tựa tâm linh thiêng liêng, thiết chế này còn là không gian giáo dục, bảo vệ di sản và thắt chặt đại đoàn kết dân tộc.

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngày 30/5, thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ ngày 1 - 30/6, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 6 với chủ đề “Ngày hội gia đình”, hướng tới chào mừng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, xã Tân Hưng (thành phố Đồng Nai) vừa tổ chức công bố và trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Câu lạc bộ được thành lập với 35 thành viên, trong đó Ban Chủ nhiệm gồm 7 thành viên do chị Điểu Thị Hồng giữ vai trò Chủ nhiệm.

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Tận dụng nguồn nguyên liệu cỏ bàng sẵn có ở các vùng biên giới (giáp ranh Campuchia) thuộc tỉnh An Giang, người dân địa phương đã tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ như, túi xách thời trang, giỏ, ví và nhiều loại vật dụng gia đình, đồ trang trí nội thất… tạo nguồn thu nhập, ổn định cuộc sống.

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Là điểm sáng trong phong trào “Hát Xoan học đường” của tỉnh Phú Thọ, Trường Tiểu học Gia Cẩm, phường Việt Trì đã đưa những làn điệu Xoan cổ hòa vào nhịp sống học đường, để tiếng trống phách và câu hát giao duyên mỗi ngày ngân vang dưới mái trường gần 2.000 học sinh.

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Ngày 28/5, Bảo tàng Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh tổ chức khai mạc Triển lãm “Cồng chiêng Tây Nguyên - Thanh âm từ đại ngàn”. Sự kiện diễn ra tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh đến hết ngày 28/6.

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Cuối tháng 5, những cánh đồng lúa ở Sơn La mang đến vẻ đẹp say đắm lòng người, với sắc vàng của mùa lúa chuẩn bị chín cùng sắc xanh mướt trải dài khắp các bản làng của núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, tạo nên bức tranh thiên nhiên yên bình, thơ mộng và đẹp đến nao lòng.

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Giữa núi rừng biên giới Pà Vầy Sủ (Tuyên Quang), những điệu múa truyền thống, tiếng khèn, câu hát dân gian vẫn được các em học sinh nâng niu gìn giữ mỗi ngày. Từ mái trường vùng cao, tình yêu văn hóa dân tộc đang được thầy cô và cộng đồng bền bỉ trao truyền, góp phần gìn giữ mạch nguồn bản sắc nơi biên cương Tổ quốc.

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Trong dòng chảy hiện đại, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số luôn là một hành trình nhiều tâm huyết. Với cộng đồng người S’tiêng tại Đồng Nai, những điệu múa, lời ca không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ. Suốt hơn ba năm qua, Câu lạc bộ văn hóa người S’tiêng BP đã trở thành nơi “giữ lửa” văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân tộc mình.

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Sáng 24/5/2026, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026. 

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Giữa vùng đất đầy nắng gió, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh nổi bật với kiến trúc độc đáo, không gian thanh tịnh và những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ là trung tâm của đạo Cao Đài, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn để du khách tìm hiểu tín ngưỡng, khám phá nét đẹp kiến trúc, văn hóa cũng như đời sống tinh thần đặc trưng của vùng Nam Bộ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi năm.

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực. Từ việc hoàn thiện quy hoạch, tu bổ di tích đến đẩy mạnh xã hội hóa và gắn bảo tồn với phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của vùng Đất Tổ đang tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.