Lạng Sơn bảo tồn nghệ thuật hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày

Chiều 2/3, tại khuôn viên Tượng đài Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các Câu lạc bộ hát sli, lượn trên địa bàn tỉnh tổ chức Hội hát then, sli, lượn dân tộc Tày, Nùng. Đây là hoạt động ý nghĩa, nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng trong đời sống của đồng bào các dân tộc xứ Lạng, góp phần bảo tồn, gìn giữ loại hình nghệ thuật này.

Những điệu then, câu sli, lượn mượt mà, ngọt ngào, sâu lắng, tình tứ, đắm say hòa vào tiếng đàn, tiếng nhạc giữa tiết trời mùa Xuân như thúc giục bước chân nhân dân, du khách gần xa. Tại khu vực công viên Tượng đài Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn, đông đảo người dân khắp nơi, chủ yếu là đồng bào Tày, Nùng ở các địa phương của tỉnh Lạng Sơn và các tỉnh, thành phố trong khu vực đã tụ hội về đây để gặp gỡ, giao lưu hát then, trẩy hội, du Xuân.

vna_potal_hoi_hat_then_sli_luon_dan_toc_nung_tay_lang_son_7251800.jpg
Hát then “Câu then chào Xuân” do Câu lạc bộ Dân ca Điếp sli then xã Thụy Hùng, huyện Cao Lộc biểu diễn tại ngày hội. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Bà Hoàng Thị Quế, người dân tộc Nùng cùng hơn 30 người bạn ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang lên Lạng Sơn tham gia Hội hát then, sli, lượn chia sẻ, 5 năm qua, năm nào dịp đầu Xuân, bà cùng nhóm bạn bè cũng lên thành phố Lạng Sơn để tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, nghe giao lưu hát then, sli, lượn. Hội hát rất đông vui. Đến đây, mọi người như được hòa mình vào sinh hoạt văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, giao lưu, trao đổi, học hỏi những điệu hát, câu sli mang đặc trưng riêng ở các địa phương.

Là một trong 20 người trong đoàn hát của huyện Văn Quan tham gia Hội hát then, sli, lượn, ông Hứa Văn Khai, người dân tộc Nùng ở xã Khánh Khê, huyện Văn Quan (Lạng Sơn) cho hay, do đam mê hát sli nên từ lúc hơn 10 tuổi ông đã theo đoàn hát của địa phương để nghe những người trong xóm hát, đến năm 18 tuổi ông Khai đã hát thành thạo các làn điệu sli. Nhiều năm qua, cứ nơi nào có hội hát then, sli, lượn, ông sẽ cố gắng thu xếp công việc gia đình để tham gia, với mong muốn được giao lưu, học hỏi nét đẹp văn hóa, văn nghệ của các địa phương trong và ngoài tỉnh.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_hoi_hat_then_sli_luon_dan_toc_nung_tay_lang_son_7251801.jpg
Hát múa “Đôi bạn trẻ và câu sli quê hương” do Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn biểu diễn tại ngày hội. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Dân tộc Tày, Nùng chiếm phần đông dân số tỉnh Lạng Sơn. Người Tày, Nùng có nhiều đặc điểm gần gũi nhau về dân tộc học, nơi cư trú, văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ; thường sử dụng ngôn ngữ của mình ở mọi lúc mọi nơi, trong cuộc sống hằng ngày khi nói chuyện với nhau và hát sli, lượn giao duyên với nhau.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_hoi_hat_then_sli_luon_dan_toc_nung_tay_lang_son_7251804.jpg
Hát múa “Đôi bạn trẻ và câu sli quê hương” do Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh Lạng Sơn biểu diễn tại ngày hội. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Để bảo tồn nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc nói chung và nghệ thuật hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày nói riêng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn đã chỉ đạo các phòng chuyên môn, đơn vị trực thuộc tăng cường sưu tầm các tài liệu, hiện vật chữ viết, thu âm ghi hình các phong tục, tập quán, dân ca có sử dụng ngôn ngữ Tày, Nùng; biên dịch các tác phẩm, trích đoạn then cổ, quan làng, cỏ lẩu, sli xuất bản thành sách để lưu trữ, phục vụ công tác tìm hiểu của nhân dân.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh hướng dẫn các huyện, thành phố đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích người dân sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong cuộc sống hằng ngày, động viên thế hệ lớn tuổi truyền dạy lại những làn điệu hát then, sli, lượn cho thế hệ trẻ.

Vũ Văn Đạt

(TTXVN)
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Hơn sáu thập kỷ sau ngày hoàn thành, đường Hạnh Phúc đã trở thành biểu tượng của ý chí, tinh thần cống hiến và khát vọng dựng xây của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ một tuyến giao thông mở lối cho vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, con đường hôm nay là di sản lịch sử của nơi địa đầu Tổ quốc. Hiếm có công trình giao thông nào mà trên từng mét đường đều in đậm dấu chân, mồ hôi và cả máu của hàng nghìn thanh niên xung phong như đường Hạnh Phúc.

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Những nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội và phong tục truyền thống đặc sắc của đồng bào Chăm được tái hiện sinh động tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI. Sự kiện góp phần tôn vinh, lan tỏa và gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng Chăm.

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Sáng 27/6, tại Đầm Vực, thôn Nam Viên (xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), UBND xã Nghi Xuân tổ chức Lễ hội đánh cá Vực - Rào năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa truyền thống được địa phương duy trì nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân gian gắn với đời sống cộng đồng. Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách tham gia trải nghiệm.

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tối 26/6, tại Khánh Hòa, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng tỉnh Khánh Hòa tổ chức đã chính thức diễn ra. Ngày hội quy tụ hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên quần chúng và đông đảo đồng bào Chăm đến từ 7 tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia.

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Hướng tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026, ngành Văn hóa tỉnh Khánh Hòa đã chủ động triển khai tích hợp mã QR cùng nền tảng trải nghiệm số tại Khu di tích Tháp Bà Pô Nagar.

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Với bề dày hàng trăm năm, văn hóa của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy giá trị. Nhiều di sản vật thể, phi vật thể được khai thác, phát triển thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, đưa hình ảnh văn hóa Chăm nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung vươn xa trên bản đồ du lịch.