Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế

Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế
Thể thức của loại hình Nhã nhạc này thể hiện tính Vương quyền, tính uy nghi, hoành tráng của Triều đại. Nhã nhạc Cung đình Huế được xem là loại hình âm nhạc chính thống, là Quốc nhạc, được sử dụng trong các cuộc tế lễ của Triều đình (như lễ Đăng quang, lễ Băng hà, lễ tế Nam Giao, lễ tế Xã tắc, và nhiều lễ trang nghiêm khác...). Loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho Vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của Triều đại. Chính vì vậy, các Vua nhà Nguyễn đã coi trọng việc phát triển Nhã nhạc Cung đình. Qua từng thời kỳ lịch sử, âm nhạc Cung đình được kế thừa và tiếp tục phát huy phục vụ cho các Vương triều phong kiến.

Dưới thời Vua Đinh thế kỷ X đã có nhã nhạc nhưng do tình hình lịch sử và hoàn cảnh lúc bấy giờ nên không thấy có tư liệu nào để lại và đến thời Tiền Lê cũng vậy.

Nhã nhạc Cung đình thời Lý - Trần đã bộc lộ khá rõ nét. Sử sách ghi lại những vũ điệu Cung đình nhà Lý có ảnh hưởng của Chiêm Thành. Đến thời Trần, sinh hoạt ca múa Cung đình phong phú về loại hình và bài bản, có tổ chức dàn Đại nhạc và Tiểu nhạc. Qua sử sách và thư tịch cổ cho thấy dưới Triều Vua Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu rất cao trong việc xây dựng thiết chế, ổn định tổ chức và phong cách âm nhạc trong Triều đình, có thể thấy qua sự kiện lịch sử về vụ tranh chấp giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng xung quanh việc chế định Nhã nhạc Triều Lê Thánh Tông. Cùng với đó, thiết lập các “Bộ” Đồng Văn, Nhã nhạc và “Ty” Giáo phường, những cơ quan Nhà nước chuyên trách việc nghiên cứu, sáng tác, đào tạo, quản lý các hoạt động nhã nhạc trong Triều cũng như ngoài dân gian. Thời kỳ này, Nhã nhạc được ổn định và chính thức hoá ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam: lý thuyết “5 cung 7 thanh”, các điệu thức Bắc, Nam, Huỳnh, Pha… Thời kỳ này bắt đầu có sự phân biệt nhạc khí Cung đình với nhạc khí dân gian.
 
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)

Dưới thời Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn, Nhã nhạc Cung đình trải qua thời kỳ suy thoái do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623-1634) lập ra một hệ thống Lễ nhạc, Triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc Cung đình lớn của Đàng trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo.

Đến thời Nguyễn (1802-1945), vào nửa đầu thế kỷ XIX, âm nhạc Cung đình phát triển trở lại. Những thiết chế tổ chức từ Triều Lê đã được kế thừa và phát triển rộng rãi, đặc biệt ca kịch Cung đình được đẩy lên một trình độ cao dưới thời Vua Nguyễn. Môi trường diễn xướng xuất hiện với sự đầu tư của Triều đình rất công phu, lần lựợt nhà hát Duyệt Thị Đường, Minh khiêm Đường ra đời. Nhã nhạc Triều Nguyễn đã sử dụng hàng trăm nhạc chương có lời ca bằng chữ Hán. Phần lớn các nhạc chương đều do quan Bộ Lễ hoặc Hàn Lâm viện biên soạn có nội dung phù hợp với các cuộc lễ của Triều đình.

Ngoài ra, trong cuốn Minh Mạng chính yếu  còn ghi lại những chi tiết về nhạc Lễ Cung đình, đây chính là tài liệu có giá trị lịch sử rất quý báu để nghiên cứu sâu hơn về âm nhạc Cung đình Huế.       

Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức mất (1883), âm nhạc Cung đình Phú Xuân bây giờ quen gọi là Nhã nhạc Cung đình đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển mạnh. Các loại giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc cổ điển thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuồng cổ điển, Cung đình (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế). Đáng chú ý là nhiều nhà hát, rạp hát lớn nhỏ của Vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc Cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt Thị Đường trong Hoàng thành, Minh Khiêm Đường trong lăng Tự Đức, Cửu Tư Đài trong Cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại Tư dinh Thượng thư Đào Tấn, rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975).
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)

Dưới thời Vua Gia Long (1802-1819), “Việt tương đội” là một tổ chức âm nhạc Cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong Cung Ninh Thọ.

Dưới thời Vua Minh Mạng (1820-1840) cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt Thị Đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh Bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Theo Văn bia ghi nhận vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển ở mức cao hơn, hoành tráng hơn. Trong cuốn Đại Nam thực lục đã ghi lại lời của Vua với các quan như sau: “... Trẫm thấy là buổi đầu gây dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế mà chưa nắm được cốt yếu... Nay tuy nhạc xưa đã bỏ mất, mà đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc cùng bọn các ngươi chế tác” .

Đến đời Vua Tự Đức (1841-1883), âm nhạc cổ điển, Nhã nhạc Cung đình và hát bội Cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà Vua cho xây dựng Nhà hát Minh Khiêm Đường (1864) trong Khiêm cung (sau khi Vua mất gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Là người say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, Vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong Triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội.

Từ năm 1858-1885, thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8-1885, Kinh đô Phú Xuân Huế thất thủ, các Vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống Cung đình tẻ nhạt, nên âm nhạc Cung đình cũng không được quan tâm, đầu tư và phát triển.
 
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)

Năm 1889-1925, Vua Thành Thái lập “Võ can đội”, rồi thêm một đội “Đồng ấu” (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội), nhưng tất cả đều hoạt động cầm chừng. Năm 1914-1944, Tập san “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des Amis du Vieux Huế) ra đời và xuất bản tổng cộng 120 tập, trong đó có nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): “Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh”.

Năm 1925-1945, dưới thời Vua Bảo Đại, “Võ can đội” thời Vua Thành Thái được đổi thành “Ba vũ đội” gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc, tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ Lễ Tế Nam giao. Năm 1942, Nhã nhạc Cung đình Huế được biểu diễn trong cử hành Lễ Tế Nam giao, đây cũng là lần cuối cùng nhã nhạc được sử dụng phục vụ trong Cung đình Triều Nguyễn. Ngày 31-8-1945, khi Hoàng đế cuối cùng của Triều Nguyễn thoái vị, nhã nhạc Cung đình không còn có cơ hội để sử dụng và phát triển. Cuối thời Nguyễn, Triều đình chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc và Tiểu nhạc bên cạnh dàn Quân nhạc ảnh hưởng từ văn hoá Phương Tây. Nhiều bài bản bị rơi vào quên lãng, biên chế các dàn nhạc bị thu hẹp, biến dạng, nhiều dàn nhạc và nhạc cụ bị biến mất hoàn toàn khỏi dàn nhạc Cung đình. Âm nhạc Cung đình Huế mất đi vị trí chức năng xã hội, môi trường diễn xướng nguyên thủy, đi vào suy thoái và có nguy cơ thất truyền. Mãi cho đến những năm cuối thế kỷ XX, Nhã nhạc dần dần được phục hồi, và rồi đạt được một vị thế mới trên trường quốc tế khi trở thành Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại vào tháng 11-2003. Công cuộc bảo tồn và phát huy di sản Nhã nhạc còn không ít khó khăn đặt ra trước mắt. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về cội nguồn lịch sử của nó là một trong những tiền đề quan trọng để di sản văn hoá thế giới này được bảo vệ một cách tốt nhất.    

Như vậy, Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Theo đánh giá của UNESCO, “trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia”. “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ XIII  ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc Cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất”. Hy vọng rằng với sự quan tâm của Nhà nước, cộng đồng quốc tế, chính quyền địa phương, cũng như những nghệ nhân còn sống và thế hệ trẻ sẽ cùng chung tay góp sức khôi phục và phát triển dòng nhạc “uyên bác” này.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Không để mai một di sản văn hóa quý báu của cha ông

Không để mai một di sản văn hóa quý báu của cha ông

Câu lạc bộ múa dân tộc xã Nha Bích (thành phố Đồng Nai) ra đời năm 2021, đến nay đã thu hút 35 thành viên, chia thành nhóm múa đương đại và nhóm múa dân tộc. Đây là lực lượng nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh niên là người đồng bào dân tộc thiểu số xã Nha Bích.

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Cao Bằng được biết đến là quê hương của hát then, đàn tính. Để lời then tiếng tính không chỉ vang lên ở mỗi nếp nhà, mà còn lan tỏa sâu rộng, những nghệ nhân, người truyền lửa cùng sự định hướng của ngành du lịch và chính quyền các cấp đã góp phần gìn giữ giá trị bền vững của quê hương giữa dòng chảy hiện đại.

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với các chuyên gia Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông. Đây là hoạt động quan trọng nhằm rà soát việc thực hiện các khuyến nghị của UNESCO, chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định danh hiệu dự kiến diễn ra vào năm 2027.

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Sáng 2/6, Ban tổ chức Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Lai Châu tổ chức lễ phát động cuộc thi với chủ đề “Lai Châu - Mạch nguồn văn hóa, tiềm năng, động lực phát triển”. Lễ phát động được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến từ điểm cầu tỉnh đến điểm cầu 36 xã, phường trong tỉnh.

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Tại thành phố Cần Thơ, Phật giáo Nam tông tiếp tục thể hiện rõ vai trò trụ cột trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Không chỉ là điểm tựa tâm linh thiêng liêng, thiết chế này còn là không gian giáo dục, bảo vệ di sản và thắt chặt đại đoàn kết dân tộc.

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngày 30/5, thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ ngày 1 - 30/6, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 6 với chủ đề “Ngày hội gia đình”, hướng tới chào mừng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, xã Tân Hưng (thành phố Đồng Nai) vừa tổ chức công bố và trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Câu lạc bộ được thành lập với 35 thành viên, trong đó Ban Chủ nhiệm gồm 7 thành viên do chị Điểu Thị Hồng giữ vai trò Chủ nhiệm.

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Tận dụng nguồn nguyên liệu cỏ bàng sẵn có ở các vùng biên giới (giáp ranh Campuchia) thuộc tỉnh An Giang, người dân địa phương đã tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ như, túi xách thời trang, giỏ, ví và nhiều loại vật dụng gia đình, đồ trang trí nội thất… tạo nguồn thu nhập, ổn định cuộc sống.

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Là điểm sáng trong phong trào “Hát Xoan học đường” của tỉnh Phú Thọ, Trường Tiểu học Gia Cẩm, phường Việt Trì đã đưa những làn điệu Xoan cổ hòa vào nhịp sống học đường, để tiếng trống phách và câu hát giao duyên mỗi ngày ngân vang dưới mái trường gần 2.000 học sinh.

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Ngày 28/5, Bảo tàng Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh tổ chức khai mạc Triển lãm “Cồng chiêng Tây Nguyên - Thanh âm từ đại ngàn”. Sự kiện diễn ra tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh đến hết ngày 28/6.

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Cuối tháng 5, những cánh đồng lúa ở Sơn La mang đến vẻ đẹp say đắm lòng người, với sắc vàng của mùa lúa chuẩn bị chín cùng sắc xanh mướt trải dài khắp các bản làng của núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, tạo nên bức tranh thiên nhiên yên bình, thơ mộng và đẹp đến nao lòng.

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Giữa núi rừng biên giới Pà Vầy Sủ (Tuyên Quang), những điệu múa truyền thống, tiếng khèn, câu hát dân gian vẫn được các em học sinh nâng niu gìn giữ mỗi ngày. Từ mái trường vùng cao, tình yêu văn hóa dân tộc đang được thầy cô và cộng đồng bền bỉ trao truyền, góp phần gìn giữ mạch nguồn bản sắc nơi biên cương Tổ quốc.

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Trong dòng chảy hiện đại, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số luôn là một hành trình nhiều tâm huyết. Với cộng đồng người S’tiêng tại Đồng Nai, những điệu múa, lời ca không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ. Suốt hơn ba năm qua, Câu lạc bộ văn hóa người S’tiêng BP đã trở thành nơi “giữ lửa” văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân tộc mình.

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Sáng 24/5/2026, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026. 

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Giữa vùng đất đầy nắng gió, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh nổi bật với kiến trúc độc đáo, không gian thanh tịnh và những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ là trung tâm của đạo Cao Đài, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn để du khách tìm hiểu tín ngưỡng, khám phá nét đẹp kiến trúc, văn hóa cũng như đời sống tinh thần đặc trưng của vùng Nam Bộ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi năm.

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực. Từ việc hoàn thiện quy hoạch, tu bổ di tích đến đẩy mạnh xã hội hóa và gắn bảo tồn với phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của vùng Đất Tổ đang tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.