Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế

Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế
Thể thức của loại hình Nhã nhạc này thể hiện tính Vương quyền, tính uy nghi, hoành tráng của Triều đại. Nhã nhạc Cung đình Huế được xem là loại hình âm nhạc chính thống, là Quốc nhạc, được sử dụng trong các cuộc tế lễ của Triều đình (như lễ Đăng quang, lễ Băng hà, lễ tế Nam Giao, lễ tế Xã tắc, và nhiều lễ trang nghiêm khác...). Loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho Vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của Triều đại. Chính vì vậy, các Vua nhà Nguyễn đã coi trọng việc phát triển Nhã nhạc Cung đình. Qua từng thời kỳ lịch sử, âm nhạc Cung đình được kế thừa và tiếp tục phát huy phục vụ cho các Vương triều phong kiến.

Dưới thời Vua Đinh thế kỷ X đã có nhã nhạc nhưng do tình hình lịch sử và hoàn cảnh lúc bấy giờ nên không thấy có tư liệu nào để lại và đến thời Tiền Lê cũng vậy.

Nhã nhạc Cung đình thời Lý - Trần đã bộc lộ khá rõ nét. Sử sách ghi lại những vũ điệu Cung đình nhà Lý có ảnh hưởng của Chiêm Thành. Đến thời Trần, sinh hoạt ca múa Cung đình phong phú về loại hình và bài bản, có tổ chức dàn Đại nhạc và Tiểu nhạc. Qua sử sách và thư tịch cổ cho thấy dưới Triều Vua Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu rất cao trong việc xây dựng thiết chế, ổn định tổ chức và phong cách âm nhạc trong Triều đình, có thể thấy qua sự kiện lịch sử về vụ tranh chấp giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng xung quanh việc chế định Nhã nhạc Triều Lê Thánh Tông. Cùng với đó, thiết lập các “Bộ” Đồng Văn, Nhã nhạc và “Ty” Giáo phường, những cơ quan Nhà nước chuyên trách việc nghiên cứu, sáng tác, đào tạo, quản lý các hoạt động nhã nhạc trong Triều cũng như ngoài dân gian. Thời kỳ này, Nhã nhạc được ổn định và chính thức hoá ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam: lý thuyết “5 cung 7 thanh”, các điệu thức Bắc, Nam, Huỳnh, Pha… Thời kỳ này bắt đầu có sự phân biệt nhạc khí Cung đình với nhạc khí dân gian.
 
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)

Dưới thời Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn, Nhã nhạc Cung đình trải qua thời kỳ suy thoái do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623-1634) lập ra một hệ thống Lễ nhạc, Triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc Cung đình lớn của Đàng trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo.

Đến thời Nguyễn (1802-1945), vào nửa đầu thế kỷ XIX, âm nhạc Cung đình phát triển trở lại. Những thiết chế tổ chức từ Triều Lê đã được kế thừa và phát triển rộng rãi, đặc biệt ca kịch Cung đình được đẩy lên một trình độ cao dưới thời Vua Nguyễn. Môi trường diễn xướng xuất hiện với sự đầu tư của Triều đình rất công phu, lần lựợt nhà hát Duyệt Thị Đường, Minh khiêm Đường ra đời. Nhã nhạc Triều Nguyễn đã sử dụng hàng trăm nhạc chương có lời ca bằng chữ Hán. Phần lớn các nhạc chương đều do quan Bộ Lễ hoặc Hàn Lâm viện biên soạn có nội dung phù hợp với các cuộc lễ của Triều đình.

Ngoài ra, trong cuốn Minh Mạng chính yếu  còn ghi lại những chi tiết về nhạc Lễ Cung đình, đây chính là tài liệu có giá trị lịch sử rất quý báu để nghiên cứu sâu hơn về âm nhạc Cung đình Huế.       

Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức mất (1883), âm nhạc Cung đình Phú Xuân bây giờ quen gọi là Nhã nhạc Cung đình đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển mạnh. Các loại giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc cổ điển thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuồng cổ điển, Cung đình (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế). Đáng chú ý là nhiều nhà hát, rạp hát lớn nhỏ của Vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc Cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt Thị Đường trong Hoàng thành, Minh Khiêm Đường trong lăng Tự Đức, Cửu Tư Đài trong Cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại Tư dinh Thượng thư Đào Tấn, rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975).
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)

Dưới thời Vua Gia Long (1802-1819), “Việt tương đội” là một tổ chức âm nhạc Cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong Cung Ninh Thọ.

Dưới thời Vua Minh Mạng (1820-1840) cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt Thị Đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh Bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Theo Văn bia ghi nhận vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển ở mức cao hơn, hoành tráng hơn. Trong cuốn Đại Nam thực lục đã ghi lại lời của Vua với các quan như sau: “... Trẫm thấy là buổi đầu gây dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế mà chưa nắm được cốt yếu... Nay tuy nhạc xưa đã bỏ mất, mà đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc cùng bọn các ngươi chế tác” .

Đến đời Vua Tự Đức (1841-1883), âm nhạc cổ điển, Nhã nhạc Cung đình và hát bội Cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà Vua cho xây dựng Nhà hát Minh Khiêm Đường (1864) trong Khiêm cung (sau khi Vua mất gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Là người say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, Vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong Triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội.

Từ năm 1858-1885, thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8-1885, Kinh đô Phú Xuân Huế thất thủ, các Vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống Cung đình tẻ nhạt, nên âm nhạc Cung đình cũng không được quan tâm, đầu tư và phát triển.
 
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)

Năm 1889-1925, Vua Thành Thái lập “Võ can đội”, rồi thêm một đội “Đồng ấu” (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội), nhưng tất cả đều hoạt động cầm chừng. Năm 1914-1944, Tập san “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des Amis du Vieux Huế) ra đời và xuất bản tổng cộng 120 tập, trong đó có nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): “Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh”.

Năm 1925-1945, dưới thời Vua Bảo Đại, “Võ can đội” thời Vua Thành Thái được đổi thành “Ba vũ đội” gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc, tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ Lễ Tế Nam giao. Năm 1942, Nhã nhạc Cung đình Huế được biểu diễn trong cử hành Lễ Tế Nam giao, đây cũng là lần cuối cùng nhã nhạc được sử dụng phục vụ trong Cung đình Triều Nguyễn. Ngày 31-8-1945, khi Hoàng đế cuối cùng của Triều Nguyễn thoái vị, nhã nhạc Cung đình không còn có cơ hội để sử dụng và phát triển. Cuối thời Nguyễn, Triều đình chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc và Tiểu nhạc bên cạnh dàn Quân nhạc ảnh hưởng từ văn hoá Phương Tây. Nhiều bài bản bị rơi vào quên lãng, biên chế các dàn nhạc bị thu hẹp, biến dạng, nhiều dàn nhạc và nhạc cụ bị biến mất hoàn toàn khỏi dàn nhạc Cung đình. Âm nhạc Cung đình Huế mất đi vị trí chức năng xã hội, môi trường diễn xướng nguyên thủy, đi vào suy thoái và có nguy cơ thất truyền. Mãi cho đến những năm cuối thế kỷ XX, Nhã nhạc dần dần được phục hồi, và rồi đạt được một vị thế mới trên trường quốc tế khi trở thành Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại vào tháng 11-2003. Công cuộc bảo tồn và phát huy di sản Nhã nhạc còn không ít khó khăn đặt ra trước mắt. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về cội nguồn lịch sử của nó là một trong những tiền đề quan trọng để di sản văn hoá thế giới này được bảo vệ một cách tốt nhất.    

Như vậy, Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Theo đánh giá của UNESCO, “trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia”. “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ XIII  ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc Cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất”. Hy vọng rằng với sự quan tâm của Nhà nước, cộng đồng quốc tế, chính quyền địa phương, cũng như những nghệ nhân còn sống và thế hệ trẻ sẽ cùng chung tay góp sức khôi phục và phát triển dòng nhạc “uyên bác” này.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Đặc sắc chương trình nghệ thuật 'Đắk Lắk - Chung một niềm tin'

Chào mừng thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, tối 16/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức chương trình nghệ thuật “Đắk Lắk - Chung một niềm tin”. Chương trình diễn ra tại hai địa điểm: Trung tâm Văn hóa - Du lịch tỉnh, phường Buôn Ma Thuột (khu vực phía Tây tỉnh) và Quảng trường Phú Yên, phường Tuy Hòa (khu vực phía Đông tỉnh).

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo – nét văn hóa đặc sắc của vùng đất khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Ninh)

Võ sáo còn được ví là “Thiết địch thần phong”, gắn với bài sáo “Bóng trăng Phồn Xương” huyền thoại – là nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Yên Thế. Cây sáo sắt xưa vừa là tín lệnh, vũ khí của nghĩa quân, vừa là nhạc cụ thể hiện nghệ thuật, biểu trưng cho tinh thần thượng võ và khí phách quật cường của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Bắc Ninh đang nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị độc đáo của bộ môn võ thuật – nghệ thuật này, hướng tới xây dựng thành di sản văn hóa.

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức Chương trình giao lưu và Hội hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày... tỉnh Lạng Sơn. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc xứ Lạng gắn với phát triển du lịch, nâng cao đời sống nhân dân...

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Lễ trao giải cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk và Chương trình nghệ thuật chủ đề “Buôn Ma Thuột - Khúc tráng ca tự hào” nhân kỷ niệm 51 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975 - 10/3/2026), chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Ngày 7/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng tổ chức Liên hoan pháo đất thành phố lần thứ nhất năm 2026. Liên hoan quy tụ trên 200 pháo thủ đến từ 7 xã gồm: Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thịnh, Tân Kỳ, Tân An và Trường Tân - những địa phương có truyền thống chơi pháo đất lâu đời của Hải Phòng.

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Tối 4/3 (tức ngày 16 tháng Giêng âm lịch), tại bản Cà Roòng (xã Thượng Trạch, Quảng Trị) đã rộn ràng diễn ra lễ hội đập trống của người Ma Coong nhằm cầu mưa thuận gió hòa, bản làng ấm no, lễ hội độc đáo này đã thu hút đông đảo bà con địa phương và du khách gần xa.

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Trong 2 ngày 26 - 27/2, tại Nhà Triển lãm Nhạc cụ truyền thống, Tổ dân phố N’Jriêng, phường Đông Gia Nghĩa (tỉnh Lâm Đồng), UBND phường Đông Gia Nghĩa phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức Hội Xuân Liêng Nung 2026 với chủ đề “Âm vang đại ngàn”. Đây là hội xuân truyền thống được tổ chức hằng năm của các dân tộc thiểu số bản địa phía Tây tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Đắk Nông cũ).

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Ngày 27/2, tại Di tích lịch sử quốc gia đình Lạc Giao (tỉnh Đắk Lắk), Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Ngày Thơ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk lần thứ 47.

Về Triều Khúc xem trai giả gái trong điệu múa cổ

Về Triều Khúc xem trai giả gái trong điệu múa cổ

Điệu múa cổ “Con đĩ đánh bồng” là điểm nhấn đặc biệt của lễ hội truyền thống làng Triều Khúc (phường Thanh Liệt, Hà Nội) đang diễn ra từ ngày 25 - 28/2/2026 (từ 9 - 12 tháng Giêng Bính Ngọ). 

Đặc sắc lễ hội Lùng tùng ở Than Uyên (Lai Châu)

Đặc sắc lễ hội Lùng tùng ở Than Uyên (Lai Châu)

Những ngày đầu xuân, trong không khí vui xuân của năm mới, đồng bào Dân tộc Thái ở xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu lại tưng bừng tổ chức Lễ hội Lùng Tùng. Đây là lễ hội xuống đồng truyền thống, mở đầu cho một mùa sản xuất mới với mong muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và mọi điều tốt đẹp.

Độc đáo lễ hội Mường Khô của đồng bào Mường xứ Thanh

Độc đáo lễ hội Mường Khô của đồng bào Mường xứ Thanh

Sáng 25/2 (tức mùng 9 tháng Giêng), tại sân vận động thôn Muỗng Do, xã Điền Lư, tỉnh Thanh Hóa đã diễn ra lễ hội Mường Khô nhằm tri ân Quận công Hà Công Thái và các vị tướng dòng họ Hà đã có công dẹp loạn ở vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đồng thời cầu cho nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt.

Kỵ mã thồ hàng tranh tài Hội đua ngựa truyền thống gò Thì Thùng

Kỵ mã thồ hàng tranh tài Hội đua ngựa truyền thống gò Thì Thùng

Ngày 25/2, tại Khu di tích lịch sử quốc gia Địa đạo gò Thì Thùng (xã Tuy An Tây), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội đua ngựa truyền thống chào đón xuân mới. Đây là lễ hội độc đáo của tỉnh Phú Yên cũ được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng hằng năm.

Tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026

Tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026

Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch triển khai Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai năm 2026, trong đó điểm nhấn là tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026, nhằm quảng bá hình ảnh văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên đến bạn bè trong và ngoài nước.

Lễ hội Khai hạ năm 2026: Điểm nhấn du lịch văn hóa gắn với bốn vùng Mường lớn

Lễ hội Khai hạ năm 2026: Điểm nhấn du lịch văn hóa gắn với bốn vùng Mường lớn

Ngày 24/2, tại sân vận động xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ diễn ra Lễ hội Khai hạ (hay còn gọi là lễ xuống đồng, lễ mở cửa rừng) - lễ hội dân gian truyền thống lớn nhất của người Mường. Đây là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng gắn liền với bốn vùng Mường lớn: Bi, Vang, Thàng, Động. Lễ hội là dịp để người dân tưởng nhớ những người đã có công mở đất, lập mường và tôn kính các vị thần linh đã che chở cho bản làng.

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Trong không khí hân hoan những ngày đầu năm Bính Ngọ 2026, du lịch Phú Thọ ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực, khởi đầu một năm mới với nhiều kỳ vọng bứt phá. Dòng người hành hương, du xuân về các điểm đến tâm linh, sinh thái, nghỉ dưỡng trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, tạo nên bức tranh sôi động, rộn ràng ngay từ những ngày đầu năm.

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra đối với Khánh Hòa không chỉ dừng ở việc khai thác hiệu quả các lợi thế về kinh tế biển, du lịch, đô thị mà còn đòi hỏi khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh từ văn hóa và con người. Đây được xác định là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và tính bền vững của quá trình phát triển trong giai đoạn mới.

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Những căn nhà sàn san sát, đường bê tông khang trang, bản Táng Ngá của đồng bào dân tộc Cống ở xã Mường Mô (tỉnh Lai Châu) giờ đã "thay da đổi thịt". Người Cống vừa làm kinh tế, vừa bảo tồn giá trị văn hóa của mình trên mảnh đất các cộng đồng dân tộc Lai Châu.

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Những ngày đầu xuân, khi sương mỏng còn quẩn quanh sườn núi, rừng già phía thượng nguồn khoác lên mình vẻ trầm mặc, đồng bào Dao đỏ lại bước vào một nghi lễ quan trọng bậc nhất trong năm - Lễ cầu mùa. Không rộn ràng như hội xuân miền xuôi, không ồn ào tiếng trống chiêng dồn dập, lễ cầu mùa của người Dao đỏ diễn ra lặng lẽ mà thiêng liêng, như một lời thì thầm gửi tới đất trời, núi rừng và tổ tiên, trước khi con người bắt đầu một chu kỳ canh tác mới.