Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế

Lịch sử hình thành và phát triển Nhã nhạc Cung đình Huế
Thể thức của loại hình Nhã nhạc này thể hiện tính Vương quyền, tính uy nghi, hoành tráng của Triều đại. Nhã nhạc Cung đình Huế được xem là loại hình âm nhạc chính thống, là Quốc nhạc, được sử dụng trong các cuộc tế lễ của Triều đình (như lễ Đăng quang, lễ Băng hà, lễ tế Nam Giao, lễ tế Xã tắc, và nhiều lễ trang nghiêm khác...). Loại hình âm nhạc này trở thành một biểu tượng cho Vương quyền về sự trường tồn, hưng thịnh của Triều đại. Chính vì vậy, các Vua nhà Nguyễn đã coi trọng việc phát triển Nhã nhạc Cung đình. Qua từng thời kỳ lịch sử, âm nhạc Cung đình được kế thừa và tiếp tục phát huy phục vụ cho các Vương triều phong kiến.

Dưới thời Vua Đinh thế kỷ X đã có nhã nhạc nhưng do tình hình lịch sử và hoàn cảnh lúc bấy giờ nên không thấy có tư liệu nào để lại và đến thời Tiền Lê cũng vậy.

Nhã nhạc Cung đình thời Lý - Trần đã bộc lộ khá rõ nét. Sử sách ghi lại những vũ điệu Cung đình nhà Lý có ảnh hưởng của Chiêm Thành. Đến thời Trần, sinh hoạt ca múa Cung đình phong phú về loại hình và bài bản, có tổ chức dàn Đại nhạc và Tiểu nhạc. Qua sử sách và thư tịch cổ cho thấy dưới Triều Vua Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu rất cao trong việc xây dựng thiết chế, ổn định tổ chức và phong cách âm nhạc trong Triều đình, có thể thấy qua sự kiện lịch sử về vụ tranh chấp giữa nhóm Nguyễn Trãi và Lương Đăng xung quanh việc chế định Nhã nhạc Triều Lê Thánh Tông. Cùng với đó, thiết lập các “Bộ” Đồng Văn, Nhã nhạc và “Ty” Giáo phường, những cơ quan Nhà nước chuyên trách việc nghiên cứu, sáng tác, đào tạo, quản lý các hoạt động nhã nhạc trong Triều cũng như ngoài dân gian. Thời kỳ này, Nhã nhạc được ổn định và chính thức hoá ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam: lý thuyết “5 cung 7 thanh”, các điệu thức Bắc, Nam, Huỳnh, Pha… Thời kỳ này bắt đầu có sự phân biệt nhạc khí Cung đình với nhạc khí dân gian.
 
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung đình Huế được phát triển với sự đa dạng và phong phú về thể loại. (Ảnh: TL)

Dưới thời Lê, Mạc, Trịnh - Nguyễn, Nhã nhạc Cung đình trải qua thời kỳ suy thoái do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623-1634) lập ra một hệ thống Lễ nhạc, Triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc Cung đình lớn của Đàng trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo.

Đến thời Nguyễn (1802-1945), vào nửa đầu thế kỷ XIX, âm nhạc Cung đình phát triển trở lại. Những thiết chế tổ chức từ Triều Lê đã được kế thừa và phát triển rộng rãi, đặc biệt ca kịch Cung đình được đẩy lên một trình độ cao dưới thời Vua Nguyễn. Môi trường diễn xướng xuất hiện với sự đầu tư của Triều đình rất công phu, lần lựợt nhà hát Duyệt Thị Đường, Minh khiêm Đường ra đời. Nhã nhạc Triều Nguyễn đã sử dụng hàng trăm nhạc chương có lời ca bằng chữ Hán. Phần lớn các nhạc chương đều do quan Bộ Lễ hoặc Hàn Lâm viện biên soạn có nội dung phù hợp với các cuộc lễ của Triều đình.

Ngoài ra, trong cuốn Minh Mạng chính yếu  còn ghi lại những chi tiết về nhạc Lễ Cung đình, đây chính là tài liệu có giá trị lịch sử rất quý báu để nghiên cứu sâu hơn về âm nhạc Cung đình Huế.       

Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức mất (1883), âm nhạc Cung đình Phú Xuân bây giờ quen gọi là Nhã nhạc Cung đình đã được phục hồi, chấn chỉnh và phát triển mạnh. Các loại giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc cổ điển thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuồng cổ điển, Cung đình (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế). Đáng chú ý là nhiều nhà hát, rạp hát lớn nhỏ của Vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc Cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt Thị Đường trong Hoàng thành, Minh Khiêm Đường trong lăng Tự Đức, Cửu Tư Đài trong Cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại Tư dinh Thượng thư Đào Tấn, rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975).
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)
Theo lịch sử ghi nhận, thời kỳ vàng son của âm nhạc Cung đình Việt Nam là dưới Triều Nguyễn trước khi Kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. (Ảnh: TL)

Dưới thời Vua Gia Long (1802-1819), “Việt tương đội” là một tổ chức âm nhạc Cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong Cung Ninh Thọ.

Dưới thời Vua Minh Mạng (1820-1840) cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt Thị Đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh Bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Theo Văn bia ghi nhận vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển ở mức cao hơn, hoành tráng hơn. Trong cuốn Đại Nam thực lục đã ghi lại lời của Vua với các quan như sau: “... Trẫm thấy là buổi đầu gây dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế mà chưa nắm được cốt yếu... Nay tuy nhạc xưa đã bỏ mất, mà đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc cùng bọn các ngươi chế tác” .

Đến đời Vua Tự Đức (1841-1883), âm nhạc cổ điển, Nhã nhạc Cung đình và hát bội Cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà Vua cho xây dựng Nhà hát Minh Khiêm Đường (1864) trong Khiêm cung (sau khi Vua mất gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Là người say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, Vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong Triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội.

Từ năm 1858-1885, thực dân Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Nam Bộ, Bắc Bộ. Tháng 8-1885, Kinh đô Phú Xuân Huế thất thủ, các Vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống Cung đình tẻ nhạt, nên âm nhạc Cung đình cũng không được quan tâm, đầu tư và phát triển.
 
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)
Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. (Ảnh: TL)

Năm 1889-1925, Vua Thành Thái lập “Võ can đội”, rồi thêm một đội “Đồng ấu” (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội), nhưng tất cả đều hoạt động cầm chừng. Năm 1914-1944, Tập san “Những người bạn cố đô Huế” (Bulletin des Amis du Vieux Huế) ra đời và xuất bản tổng cộng 120 tập, trong đó có nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): “Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh”.

Năm 1925-1945, dưới thời Vua Bảo Đại, “Võ can đội” thời Vua Thành Thái được đổi thành “Ba vũ đội” gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc, tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ Lễ Tế Nam giao. Năm 1942, Nhã nhạc Cung đình Huế được biểu diễn trong cử hành Lễ Tế Nam giao, đây cũng là lần cuối cùng nhã nhạc được sử dụng phục vụ trong Cung đình Triều Nguyễn. Ngày 31-8-1945, khi Hoàng đế cuối cùng của Triều Nguyễn thoái vị, nhã nhạc Cung đình không còn có cơ hội để sử dụng và phát triển. Cuối thời Nguyễn, Triều đình chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại nhạc và Tiểu nhạc bên cạnh dàn Quân nhạc ảnh hưởng từ văn hoá Phương Tây. Nhiều bài bản bị rơi vào quên lãng, biên chế các dàn nhạc bị thu hẹp, biến dạng, nhiều dàn nhạc và nhạc cụ bị biến mất hoàn toàn khỏi dàn nhạc Cung đình. Âm nhạc Cung đình Huế mất đi vị trí chức năng xã hội, môi trường diễn xướng nguyên thủy, đi vào suy thoái và có nguy cơ thất truyền. Mãi cho đến những năm cuối thế kỷ XX, Nhã nhạc dần dần được phục hồi, và rồi đạt được một vị thế mới trên trường quốc tế khi trở thành Kiệt tác Di sản Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại vào tháng 11-2003. Công cuộc bảo tồn và phát huy di sản Nhã nhạc còn không ít khó khăn đặt ra trước mắt. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về cội nguồn lịch sử của nó là một trong những tiền đề quan trọng để di sản văn hoá thế giới này được bảo vệ một cách tốt nhất.    

Như vậy, Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa và phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Theo đánh giá của UNESCO, “trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia”. “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ XIII  ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc Cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất”. Hy vọng rằng với sự quan tâm của Nhà nước, cộng đồng quốc tế, chính quyền địa phương, cũng như những nghệ nhân còn sống và thế hệ trẻ sẽ cùng chung tay góp sức khôi phục và phát triển dòng nhạc “uyên bác” này.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

Đồng bào Mông Tà Số vui xuân, đón Tết cổ truyền

“Tà Số - Mùa Xuân về” là chủ đề Chương trình Tết Mông năm 2026 do UBND phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung. Chương trình không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa lành mạnh trong dịp Tết cổ truyền của người Mông, mà còn là dịp để du khách khám phá nét đẹp nguyên sơ của Tà Số.

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Điểm nhấn du lịch văn hóa từ nghề nón lá truyền thống ở Gia Lai

Làng nghề nón lá Gò Găng tại phường An Nhơn Bắc là một minh chứng điển hình cho sự bảo tồn và phát triển nghề truyền thống tại Gia Lai. Trải qua hàng trăm năm với nhiều thăng trầm, làng nghề không những không bị mai một mà ngày một phát triển, đã và đang tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương.

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Nét đẹp văn hóa phong phú của người Dao Tiền nơi rẻo cao

Thái Nguyên không chỉ được biết đến là thủ phủ của trà, mà còn là nơi lưu giữ những kho tàng văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của các dân tộc thiểu số. Tại xã miền núi Phong Quang, người Dao Tiền vẫn đang gìn giữ những nghi lễ tâm linh độc đáo, được xem là "tấm giấy thông hành" để mỗi cá nhân được cộng đồng và tổ tiên công nhận: Lễ cấp sắc và lễ cắt khẩu đường âm.

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

Số hóa hoạt động 'bảo tàng' Văn hóa Óc Eo để thu hút khách

An Giang đang đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số trong văn hóa và bảo tàng để giúp người dân, du khách tiếp cận dễ dàng hơn với các hiện vật, tư liệu. Ban Quản lý di tích văn hoá Óc Eo tỉnh An Giang cũng nhanh chóng xây dựng kế hoạch, triển khai nhiều giải pháp để chuyển đổi số toàn diện hoạt động của Nhà trưng bày Văn hoá Óc Eo và các điểm di tích trọng điểm của Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê.

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng

Sáng 10/1, tại đảo hoa anh đào ở bản Kéo, UBND xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên, đã tổ chức khai mạc Lễ hội Hoa anh đào xã Mường Phăng năm 2026, với chủ đề “Mường Phăng vào xuân - Hoa anh đào khoe sắc”. Với chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, lễ hội đã thu hút hàng nghìn du khách nô nức đến dự và trải nghiệm.

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nơi gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc thù ở Lâm Đồng

Nằm ngay bên Quốc lộ 1A, tại xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm là một không gian văn hóa đặc thù, nơi lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những giá trị tiêu biểu của cộng đồng người Chăm. Với hệ thống hiện vật phong phú, không gian trưng bày khoa học cùng nhiều hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa, Trung tâm đang từng bước trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Thế hệ trẻ Gia Lai giữ lửa cồng chiêng

Cồng chiêng ngày nay không chỉ ngân vang trong các lễ hội, mà đang hiện diện ngày càng rõ nét trong đời sống đương đại. Từ buôn làng đến không gian cộng đồng, từ sinh hoạt văn hóa truyền thống đến các mô hình du lịch trải nghiệm, thế hệ trẻ đang trở thành lực lượng nòng cốt tiếp nối mạch nguồn di sản, gìn giữ và lan tỏa giá trị cồng chiêng Tây Nguyên.

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

Về vùng cực nam Tổ Quốc thưởng thức 2 di sản văn hóa thế giới​

An Giang là địa phương nằm ở vùng biên giới Tây Nam Tổ quốc, có 29 dân tộc cùng sinh sống, nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Để phát triển kinh tế di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa, những năm qua, tỉnh An Giang luôn quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc gắn với phát triển du lịch và sinh kế cộng đồng, góp phần hình thành công nghiệp văn hóa.

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Vui 'Tết bản làng' cùng đồng bào tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ nay đến hết tháng 1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu tới công chúng các hoạt động đón Xuân, nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán… của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Miệt mài bảo tồn nghề gốm Churu

Dù đã cao tuổi, bà Ma Ly (71 tuổi, xã Quảng Lập, Lâm Đồng) vẫn miệt mài duy trì nghề làm gốm truyền thống của dân tộc Churu. Không chỉ cung cấp sản phẩm cho khách hàng, bà Ma Ly còn đón du khách trải nghiệm, truyền dạy nghề gốm truyền thống cho thế hệ trẻ trong và ngoài tỉnh.

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Điện Biên đón trên 180 du khách trên chuyến bay đầu năm 2026

Ngày 1/1, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên phối hợp với Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) tổ chức chương trình đón du khách và chuyến bay đầu tiên đến tỉnh Điện Biên năm 2026 tại Cảng Hàng không Điện Biên.

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Ca trù Đông Môn: Mạch nguồn sâu lắng được trao truyền qua các thế hệ

Làng Đông Môn, phường Hòa Bình là cái nôi của ca trù (hay còn gọi là hát ả đào, hát ca quán…) khu vực phía Bắc. Trải qua những thăng trầm, ca trù Đông Môn vẫn là mạch nguồn sâu lắng, nuôi dưỡng, trao truyền qua bao thế hệ và trở thành "nhịp phách, nhịp đàn" trong dòng chảy văn hóa của thành phố và đất nước.

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Đặc sắc Ngày hội Văn hóa các dân tộc vùng biên Sam Mứn, Điện Biên

Ngày 28/12/2025, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc xã Sam Mứn lần thứ I, năm 2025, với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đặc sắc nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa truyền thống, quảng bá hình ảnh quê hương, con người Sam Mứn; đồng thời tạo không gian giao lưu, gặp gỡ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Rộn ràng ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số tại bản Rào Tre

Trong không khí hân hoan của đồng bào dân tộc Chứt đón Tết Chăm Cha Bới (Tết mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và cầu mùa màng bội thu của đồng bào dân tộc Chứt), ngày 28/12, tại bản Rào Tre (xã Phúc Trạch, tỉnh Hà Tĩnh), Tỉnh đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp tổ chức “Ngày hội thanh niên dân tộc thiểu số” năm 2025.

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Lưu giữ, phát triển giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Chứt

Trong tiến trình bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, việc nghiên cứu, xây dựng và đưa vào sử dụng trang phục sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào Chứt, tỉnh Quảng Trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ lấp đầy “khoảng trống” văn hóa suốt nhiều năm, những bộ áo quần truyền thống được nghiên cứu công phu và trao cho cộng đồng còn tạo nền tảng để các giá trị văn hóa Chứt được gìn giữ, lan tỏa, tiếp nối bền vững trong đời sống đương đại.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

Đến Mường Động tìm hiểu biểu tượng tình yêu nơi 'Đồi thông hai mộ'

“Đồi thông hai mộ” từ lâu không chỉ là một truyện thơ mà còn là một địa danh nổi tiếng của vùng Mường Động tại xóm Đằng Long, xã Nật Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây là miền ký ức văn hóa sâu thẳm của người Mường cổ, lan tỏa không gian cư trú cổ truyền trong không gian sáp nhập mới từ Hòa Bình đến Phú Thọ - nơi những câu chuyện tình, tín ngưỡng và cảnh quan hòa quyện thành nguồn lực du lịch văn hóa đặc sắc.

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Đưa di sản trở thành 'lớp học mở'

Ngày 24/12, tại Đình cổ Hùng Lô - không gian trải nghiệm di sản văn hóa tiêu biểu vùng Đất Tổ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ tổ chức công bố Chương trình Du lịch học đường - Giáo dục di sản văn hóa vùng Đất Tổ.

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Bảo tồn, nâng tầm di sản văn hóa gốm Chăm

Làng gốm Chăm Bàu Trúc ở xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, là một trong những làng gốm cổ xưa nhất ở Đông Nam Á đến nay vẫn duy trì phương pháp sản xuất hoàn toàn thủ công với những giá trị văn hóa, kỹ thuật độc đáo. “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Sắc âm Chiêng Mường và nhạc Ngũ âm Khmer giữa lòng Hà Nội

Không gian văn hóa nghệ thuật 22 Hàng Buồm (Hà Nội) những ngày qua vang lên những thanh âm rất đặc biệt – khi trầm hùng, ngân vọng của Chiêng Mường, khi rộn ràng, trang nghiêm của Nhạc Ngũ âm Khmer. Giữa lòng Thủ đô, những sắc âm đến từ núi rừng Phú Thọ và phum sóc Nam Bộ đã mang đến cho công chúng một trải nghiệm di sản sống động và đầy cảm xúc.

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Đồng bào Thái trắng ở Mường Lay bảo tồn di sản văn hóa

Mường Lay là thị xã nhỏ miền núi thuộc tỉnh Điện Biên, nằm yên bình bên lòng hồ thủy điện Sơn La. Đây không chỉ là nơi sinh sống của cộng đồng người Thái trắng qua hàng trăm năm mà còn là vùng đất thấm đẫm nét đẹp văn hóa. Với những di sản độc đáo như múa xòe, đàn tính tẩu... Mường Lay được ví như một bảo tàng sống, lưu giữ trọn vẹn giá trị truyền thống của dân tộc Thái giữa đại ngàn Tây Bắc.