Mỗi độ Xuân về, khi đất trời Tây Bắc chuyển mình trong sắc hoa đào, hoa mận bung nở khắp núi rừng, không khí Tết lại lan tỏa đến từng bản làng nơi biên cương của Tổ quốc.
Với đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên, ngày Xuân không chỉ là thời khắc sum vầy, đoàn tụ mà còn là dịp để những phong tục, nghi lễ truyền thống được tái hiện, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Trong sắc màu văn hóa đa dạng ấy, mỗi dân tộc có cách đón Tết riêng, góp phần tạo nên bức tranh mùa Xuân rực rỡ, đậm đà bản sắc.
Lễ hội Tết Hoa mào gà của đồng bào dân tộc Cống
Đối với đồng bào dân tộc Cống, mùa Xuân gắn liền với Lễ hội Tết Hoa mào gà, còn gọi là Tết hoa, một nghi lễ quan trọng thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên, thần linh và cầu mong năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trong không gian linh thiêng của bản làng, những bông hoa mào gà đỏ thắm được người dân trân trọng dâng lễ, gửi gắm ước vọng về cuộc sống bình yên, no đủ.
Theo ông Hù Văn Thịt (già làng bản Nậm Kè, xã Nậm Kè), Tết Hoa mào gà được tổ chức sau khi thu hoạch với mâm lễ gồm các sản vật truyền thống như: khoai sọ, củ mài đỏ, canh cá và rượu cần. Đây không chỉ là nghi lễ mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc mà còn là dịp để cộng đồng sum họp, gắn kết tình làng nghĩa bản, cùng nhau đón chào một mùa Xuân mới.
Với người Cống, hoa mào gà không chỉ đơn thuần là loài hoa trang trí mà còn là biểu trưng cho sức mạnh, sự kiên cường và niềm tin hướng thiện. Những ngày Xuân, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên rộn ràng khắp bản; các điệu múa truyền thống cùng lời ca mộc mạc tạo nên không khí vui tươi, ấm áp, gắn kết cộng đồng. Người dân mong muốn những giá trị văn hóa này tiếp tục được quan tâm, hỗ trợ để gìn giữ và phát huy bền vững.
Bánh chưng gù không thể thiếu trong mâm cỗ Tết của người Thái
Trong khi đó với đồng bào dân tộc Thái, Tết là dịp quan trọng để con cháu tưởng nhớ tổ tiên, ông bà. Các nghi lễ thờ cúng được chuẩn bị chu đáo, trang nghiêm, thể hiện lòng thành kính và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Tùy từng bản, từng dòng họ, cách thức tổ chức có những nét riêng, song đều hướng đến sự sum vầy, đoàn tụ.
Trong không gian Tết của người Thái, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị ẩm thực truyền thống. Những ngày giáp Tết, họ cùng nhau làm các loại bánh như khẩu xén, bánh chưng gù; chế biến thịt sấy, lạp sườn… Mỗi món ăn không chỉ mang hương vị ngày Xuân mà còn chứa đựng tình cảm gia đình, lòng biết ơn tổ tiên. Nếu người Kinh có bánh chưng vuông, người Mông có bánh dày thì bánh chưng gù là biểu tượng không thể thiếu trong mâm cỗ Tết của người Thái, tượng trưng cho sự đủ đầy, ấm no.
Những ngày Xuân, phụ nữ Thái khoác lên mình bộ áo duyên dáng, đội khăn piêu rực rỡ. Khắp bản làng rộn ràng tiếng trống, chiêng, tiếng cười nói. Đặc biệt, trong những ngày đầu năm mới, người dân cùng nhau múa xòe, hát dân ca, gửi gắm những lời chúc tốt đẹp cho bản mường yên vui, nhà nhà hạnh phúc. Việc duy trì các sinh hoạt văn hóa truyền thống được người Thái coi là cách giáo dục thế hệ trẻ về cội nguồn và bản sắc dân tộc.
Chị Tòng Thị Hồng Vân (thôn Duyên Long, xã Thanh An) cho biết, trang phục truyền thống của dân tộc Thái rất phong phú và mang đậm bản sắc với những nét đặc trưng như khăn piêu, thổ cẩm và bộ trang phục truyền thống. Theo chị Vân, dù cuộc sống hiện đại có nhiều đổi thay, đồng bào Thái vẫn luôn ý thức gìn giữ và lưu truyền các giá trị văn hóa dân tộc. Thông qua việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa truyền thống, thế hệ trẻ được giáo dục, truyền dạy và thêm hiểu về cội nguồn văn hóa của dân tộc mình.
Điểm nhấn trong đời sống văn hóa ngày Xuân của người Thái chính là vòng xòe đoàn kết. Khi tiếng chiêng, tiếng trống vang lên, già trẻ, gái trai cùng nắm tay nhau tạo thành vòng xòe ấm áp. Mỗi bước chân, điệu múa là một lời chúc Xuân, thể hiện ước vọng về cuộc sống bình yên, gắn bó. Vòng xòe không chỉ là sinh hoạt văn hóa truyền thống mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết cộng đồng - giá trị cốt lõi được người Thái gìn giữ qua bao thế hệ.
Mùa của lễ hội, niềm vui và hy vọng
Còn với đồng bào dân tộc Mông, mùa Xuân là mùa của lễ hội, niềm vui và hy vọng. Trước thời khắc chuyển giao năm mới, vào những ngày cuối năm theo lịch âm cổ truyền, các dòng họ trong bản tổ chức nghi lễ xua đuổi những điều không may của năm cũ. Trong mỗi gia đình, giấy trắng, giấy đỏ được dán lên cửa, xà nhà, cột nhà và các dụng cụ lao động như một cách để mọi vật cùng “nghỉ ngơi”, chuẩn bị đón năm mới an lành.
Theo phong tục, chủ nhà dùng bó cành tre tươi quét dọn bàn thờ và không gian sinh hoạt với mong muốn gột rửa những điều không may. Trước cửa nhà, gia chủ bày lễ gồm gà, gạo và trứng để gọi hồn tổ tiên, hồn lúa ngô và vật nuôi trở về sum họp. Đặc biệt, vào chiều 30 Tết, người Mông thực hiện nghi lễ Xử Ca - nghi lễ quan trọng nhất trong năm. Gia chủ làm lễ xin thay “áo mới” cho Xử Ca - vị thần bảo hộ gia đình, cầu mong một năm mới bình an, no ấm.
Theo ông Ly Nình Vàng (xã Sam Mứn), trước thềm năm mới, các gia đình tiến hành quét dọn bằng chổi tre, tổ chức nghi lễ dòng họ, sau đó trở về nhà làm lễ gọi hồn và thực hiện nghi lễ Xử Ca nhằm xua đi những điều không may của năm cũ, cầu mong năm mới tốt lành. Người Mông thường làm lễ Xử Ca vào mùng 1 Tết với gà trống, mời tổ tiên về sum họp, đón Tết cùng con cháu.
Sau phần nghi lễ, trong sắc váy áo rực rỡ, đồng bào Mông nô nức tham gia các hoạt động vui Xuân như: thổi khèn, ném pao, đánh quay. Tiếng khèn réo rắt giữa núi rừng vừa là lời chào Xuân, vừa gửi gắm ước mơ về cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc. Những trò chơi dân gian ngày Xuân cũng là dịp để trai gái giao lưu, gắn kết, góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống.
Với 19 dân tộc anh em cùng sinh sống, Điện Biên là vùng đất giàu bản sắc văn hóa, nơi mỗi dân tộc có phong tục đón Tết, vui Xuân riêng, tạo nên sự đa dạng và đặc sắc trong đời sống tinh thần cộng đồng. Giữa nhịp sống hiện đại, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn củng cố khối đại đoàn kết, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của vùng đất biên cương. Mỗi độ Xuân về, những phong tục, lễ hội truyền thống tiếp tục được gìn giữ, trao truyền để bản sắc văn hóa các dân tộc Điện Biên lan tỏa và trường tồn cùng thời gian./.
Tên tự gọi: Xắm khống, Phuy A.
Dân số: 2.029 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng) gần hơn với tiếng Miến, cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La... Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày.
Lịch sử: Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương cuốc, ruộng. Hái lượm còn giữ vai trò quan trọng. Người Cống không quen dệt vải, chỉ trồng bông để đổi lấy vải của các dân tộc khác. Họ giỏi đan chiếu mây nhuộm đỏ, các đồ đựng bằng tre nứa như gùi đeo, giỏ đựng cơm, rương hòm... Chuyển xuống định cư ven sông Ðà, nên người Cống quen dần với việc sử dụng thuyền trên sông.
Ăn: Người Cống ăn cơm nếp và cơm tẻ.
Mặc: Y phục của người Cống giống người Thái. Một ít gia đình còn giữ lại vài bộ y phục truyền thống bằng vải dệt của người Lào.
Ở: Nhà sàn ba hay bốn gian, chỉ có một cửa ra vào, một cửa sổ ở gian giữa, chạy dọc theo vách mặt chính của nhà có thêm một chiếc sàn nhỏ ít có giá trị sử dụng nhưng nhà nào cũng có là đặc trưng trong nhà người Cống.
Phương tiện vận chuyển: Người Cống quen sử dụng thuyền đi lại trên sông Ðà và gùi đeo qua trán khi đi nương, đi rẫy.
Quan hệ xã hội: Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn. Tính cộng đồng làng bản cao. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội.
Trong xã hội cổ truyền, chưa có sự phân hoá giai cấp, chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống chức dịch người Thái.
Dân số ít song người Cống có tới 13 dòng họ khác nhau. Ða số các dòng họ mang tên Thái như: Lò, Quang, Kha... dấu vết tô tem giáo còn rõ nét với tục kiêng và thờ các loại chim muông, thú vật. Mỗi dòng họ thường có người đứng đầu với chức năng chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần.
Cưới xin: Hôn nhân một vợ một chồng chặt chẽ. Không có đa thê, ly dị trong xã hội truyền thống.
Tục ở rể được thực hiện nghiêm ngặt, trước kia khoảng 8 - 12 năm. Lễ vật truyền thống trong lễ xin con trai tới ở rể thường vào buổi tối là gói muối, gói chè, cuộn dây gai đan chài, hay một ống rượu cần... Ngay sáng hôm sau, người con trai mang chăn, gối, con dao tới nhà gái ở rể, cũng từ đó người con gái búi tóc ngược đỉnh đầu, dấu hiệu của người đã có chồng.
Lễ đón dâu về nhà trai khi hạn ở rể đã hết, lúc đó đôi vợ chồng đã con cái đầy nhà. Của hồi môn bố mẹ cho con cái mang về nhà chồng. Nếu nhà trai người cùng bản phải cõng cô dâu về tận nhà. Trong ngày cưới, người ta không mặc quần áo mới vì có tục vẩy nước tro lên đoàn đón dâu trước khi ra về để cầu may.
Sinh đẻ: Sản phụ đẻ ngồi. Trước và sau khi đẻ phải kiêng kỵ nhiều thứ. Người Cống rất giỏi trong việc tìm kiếm lá thuốc để chăm sóc phụ nữ khi sinh nở.
Ma chay: Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với tổ tiên. Việc chọn ngày chôn được coi trọng. Trong những ngày trước hôm chôn, thường phải cúng cơm cho người chết, buổi tối có các nghi thức nhảy múa truyền thống. Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản. Mười hai ngày sau khi chôn người chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà. Con cái để tang cha mẹ bằng cách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khi cúng cơm mới, mới được bỏ.
Thờ cúng: Cùng với việc cúng tổ tiên 2, 3 đời theo phụ hệ là việc cúng ma bố mẹ vợ vào dịp tết. Bố chủ trì việc cúng. Nếu bố chết, mẹ thay thế. Khi anh em chia nhà ra ở riêng, mỗi người con trai lập bàn thờ cúng riêng tại nhà mình. Lễ vật cúng tổ tiên chỉ có bát gạo, ống nước và con gà. Người cúng ôm gà ngồi trước bàn thờ khấn, xong giết gà ngay tại chỗ, bôi máu vào lá dong, gói lại cài lên vách nơi thờ cúng vài ba chiếc lông gà.
Hàng năm cứ đến tháng ba âm lịch, các bản đều tổ chức lễ cúng bản trước vụ gieo hạt, các ngả đường vào bản làm cổng, cắm dấu hiệu kiêng kỵ một ngày không ai được vào bản.
Các gia đình đều làm lễ cúng trên nương trước khi kết thúc công việc tra hạt. Ðêm đó chủ nhà làm lễ cúng ở phía trên lều nương; lễ vật chỉ có cá, cua, cầu mong chim thú không phá hại; trồng vài khóm kiệu cầu xin lúa tốt, xanh tươi như khóm cây này.
Học: Việc giáo dục truyền thống thông qua kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác kết hợp với thực hành.
Văn nghệ: Người Cống thường hát múa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới. Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái hôm đón dâu ở chân cầu thang trước khi lên nhà thực sự là một cuộc thi hát dân gian. Trai gái, già trẻ đều vui múa trong ngày cưới. Ðặc biệt là điệu múa đầu tiên do các em gái của chàng rể trình diễn để bắt đầu cuộc vui. Họ vừa múa, vừa giơ cao các tặng vật truyền thống như con gà, con sóc, cá khô mà người anh trai tặng mình.
Chơi: Các trò chơi tập thể như đuổi bắt, đánh khăng... được trẻ em ưa thích. Ngoài ra, chúng còn chơi các loại đồ chơi bằng tre gỗ tự chế.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn