Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.
Những dấu ấn đậm nét trong nhiệm kỳ 5 năm
Theo bà Leo Thị Lịch - Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, trong 5 năm qua (2021 - 2025), Chính phủ đã thể hiện quyết tâm chính trị rất cao khi quyết liệt chỉ đạo thực hiện song hành 3 Chương trình MTQG: Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi (theo Quyết định 1719).
Nhìn vào bức tranh tổng thể, những thành tựu đạt được là rất đáng khích lệ. Theo báo cáo đánh giá, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong đồng bào DTTS giảm bình quân khoảng 3,4%/năm. Đây là một con số biết nói, minh chứng cho sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người của vùng đồng bào DTTS đã tăng gấp 3 lần so với năm 2020, một bước nhảy vọt về chất lượng sống trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều tác động sau đại dịch và biến động toàn cầu.
Sự thay đổi diện mạo ở các bản làng xa xôi không chỉ nằm ở những con số thống kê, mà còn hiện hữu qua hệ thống điện, đường, trường, trạm được nâng cấp. Điều này khẳng định năng lực điều hành và định hướng đúng đắn của Chính phủ trong việc ưu tiên nguồn lực cho những khu vực "lõi nghèo", vốn là rào cản lớn nhất trong tiến trình phát triển đất nước.
Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng, kết quả phát triển vùng DTTS và các vùng đặc biệt khó khăn hiện nay vẫn bộc lộ những mâu thuẫn nội tại. Khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc miền núi với các vùng động lực vẫn còn quá lớn. Dù tổng vốn đầu tư đã được phân bổ về địa phương, nhưng hiệu quả thực tế đôi khi chưa tương xứng với kỳ vọng.
Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội cũng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: Cách thức triển khai hiện nay vẫn còn tình trạng "manh mún, chia cắt và thiếu trọng tâm". Việc lồng ghép các chương trình, một chủ trương đúng đắn để tập trung nguồn lực lại đang là khâu yếu nhất, dẫn đến sự chồng chéo, lãng phí và khó thực hiện trên thực tế.
Vẫn còn những rào cản, bất cập
Đại biểu Quốc hội Leo Thị Lịch cho rằng, một trong những hạn chế lớn nhất là các dự án hạ tầng tại vùng đặc biệt khó khăn vẫn nhỏ lẻ và dàn trải. Nhiều dự án chưa tạo được động lực lan tỏa mạnh để kích thích kinh tế - xã hội vùng phát triển rõ nét. Đặc biệt, sau khi thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính, việc đầu tư hạ tầng cho các thôn, bản ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vẫn còn dang dở, chưa được hoàn thiện đồng bộ.
Đáng quan ngại hơn, vấn đề đất ở, đất sản xuất và định canh định cư, vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Đây là vấn đề "nóng", đã được Chính phủ chỉ đạo nhiều lần, được phản ánh qua nhiều kỳ sơ kết, nhưng đến nay vẫn là "nút thắt" chưa được khắc phục triệt để, trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài của người dân.
Hiện nay, việc phân bổ đầu tư công chưa thực sự sát với đặc thù từng vùng miền. Vốn Trung ương vẫn phân bổ theo các tiêu chí chung, chưa tạo ra sự ưu tiên mang tính "đột phá" cho các xã vùng sâu, vùng biên giới. Đặc biệt tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên – nơi thường xuyên chịu tác động của thiên tai, lũ quét, sạt lở – nguồn lực hỗ trợ thường đến chậm hoặc mới chỉ dừng lại ở các hoạt động xã hội hóa tạm thời. Nghịch lý lớn nhất là tại nhiều nơi, "tiền đã về nhưng không tiêu được" do vướng mắc về cơ chế và sự thiếu đồng bộ trong việc lồng ghép nguồn vốn đầu tư công trung hạn. Sự chồng chéo về nội dung giữa các chương trình khiến cấp cơ sở lúng túng trong việc thực thi.
Cũng theo đại biểu Leo Thị Lịch, dù tỷ lệ giảm nghèo ấn tượng, nhưng tính bền vững là một dấu hỏi lớn. Thực tế cho thấy sự giảm nghèo hiện nay rất bấp bênh, nguy cơ tái nghèo sau thiên tai, dịch bệnh luôn hiện hữu. Khi giai đoạn giảm nghèo đa chiều hiện tại kết thúc vào năm 2027, với những tiêu chí mới dự báo sẽ cao hơn, số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo chắc chắn sẽ có sự biến động lớn. Nếu không nhìn nhận thực chất và có tiêu chí đánh giá sát sao, mục tiêu của kế hoạch 5 năm sẽ khó đạt chuẩn một cách bền vững.
Đào tạo nghề cho thanh niên và người lao động DTTS tại các tỉnh thành hiện vẫn ở mức rất thấp. Khoảng cách thu nhập giữa người DTTS và mặt bằng chung cả nước không những chưa thu hẹp mà còn có xu hướng nới rộng ở một số phân khúc. Việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục chất lượng cao tại vùng sâu, vùng xa vẫn là một thách thức cực lớn, chưa có sự chuyển biến mang tính bứt phá trong giai đoạn vừa qua.
Những kiến nghị chiến lược cho giai đoạn tới
Từ những thực tiễn và khó khăn nêu trên, đại biểu Leo Thị Lịch cho rằng, để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 88 của Quốc hội khóa XIV và Nghị quyết 257 của Quốc hội khóa XV về chủ trương đầu tư các Chương trình MTQG, Chính phủ cần tập trung vào các nhóm giải pháp đột phá:
Thứ nhất, định vị lại tầm nhìn chiến lược. Cần tiếp tục khẳng định phát triển vùng DTTS và miền núi không chỉ là an sinh xã hội, mà là nhiệm vụ chiến lược để thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững của quốc gia. Phải coi việc thu hẹp khoảng cách vùng miền là thước đo thành công của sự phát triển.
Thứ hai, nâng cao chất lượng sống và tích hợp nguồn lực. Cần tập trung nguồn lực mạnh mẽ hơn vào "vùng lõi nghèo". Phải có cơ chế quản lý điều hành tích hợp thực chất để tránh trùng lặp nội dung, đối tượng. Việc tích hợp 3 chương trình phải đi đôi với các giải pháp thực tế, phù hợp với năng lực thực thi của địa phương.
Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân bổ vốn. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu tăng tỷ trọng vốn đầu tư công cho vùng đồng bào DTTS thêm khoảng 10-15% so với giai đoạn trước. Cần áp dụng triệt để nguyên tắc: "Địa phương quyết, địa phương bàn, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm". Việc giao quyền chủ động cho cấp tỉnh trong việc điều chỉnh vốn phù hợp với thực tế phát triển của địa phương là yếu tố sống còn để xóa bỏ tình trạng "vướng cơ chế". Đi kèm với đó là tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Thứ tư, tập trung vào các dự án mang tính liên kết. Phân bổ vốn phải sát với đặc thù vùng miền, ưu tiên cao nhất cho Tây Bắc, Tây Nguyên và những vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thay vì các dự án nhỏ lẻ, cần tập trung vào các dự án lớn, đầu tư theo chuỗi liên kết hạ tầng liên vùng và chuỗi giá trị sản xuất - tiêu thụ sản phẩm cho bà con.
Thứ năm, đơn giản hóa thủ tục và khơi thông tín dụng. Cần đẩy mạnh lồng ghép nguồn vốn đầu tư công với nguồn vốn xã hội hóa. Đặc biệt, phải đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính để người dân vùng khó khăn có thể dễ dàng tiếp cận các chính sách tín dụng ưu đãi, tạo sinh kế bền vững và phát triển hạ tầng an sinh xã hội ngay tại cơ sở.
Hành trình phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, nhưng cũng để lại những bài học sâu sắc về quản lý và điều hành. Để bước vào giai đoạn tiếp theo với tâm thế chủ động, việc khắc phục những tồn tại về cơ chế và tập trung nguồn lực vào những dự án mang tính động lực là con đường duy nhất để không một ai, không một vùng đất nào bị bỏ lại phía sau trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.