Phát huy vai trò nghệ nhân trong bảo tồn văn hóa dân tộc

Điện Biên là vùng đất hội tụ 19 dân tộc anh em cùng chung sống, tạo nên bức tranh văn hóa rực rỡ sắc màu, từ trang phục truyền thống đến phong tục, lễ hội đặc sắc. Nhiều giá trị văn hóa được tôn vinh là di sản của quốc gia, nhân loại. Người thổi niềm đam mê, là “linh hồn sống” của các di sản ấy chính là những nghệ nhân, họ thắp lên ngọn lửa đam mê, gìn giữ và truyền dạy tinh hoa văn hóa, để mạch nguồn di sản mãi lan tỏa, trường tồn cùng thời gian.

dien-bien1-10925.jpg
Hát Then là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Những "linh hồn sống" bảo tồn, phát huy giá trị di sản

Ông Vàng Văn Thức ở bản Na Nát, phường Mường Lay là người có công lớn trong bảo tồn lễ Kin pang then (lễ tạ ơn các thần linh, thầy của thầy then, thầy then trần gian, tổ tiên) của dân tộc Thái trắng. Hơn 30 năm gắn bó với hát Then, ông được xem là “người giữ hồn” dân tộc Thái ở Mường Lay và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015. Không chỉ truyền dạy trong cộng đồng người Thái, ông còn hướng dẫn cả những học viên người Kinh có niềm đam mê với văn hóa truyền thống.

Nghệ nhân Vàng Văn Thức cho biết, để những làn điệu Then cổ không bị mai một và mất đi, ông đã truyền dạy lại cho con cháu trong gia đình cũng như những người yêu thích Then ở khắp các vùng miền trong cả nước với mong muốn góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc. Ông cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động liên quan đến lễ Kin pang then tại địa bàn và những nơi có người Thái sinh sống ở trong và ngoài tỉnh.

Nghệ nhân Vàng Văn Thức ở phường Na Lay, thị xã Mường Lay trình diễn nghệ thuật hát Then của người Thái.

Nghệ nhân Vàng Văn Thức ở phường Na Lay, thị xã Mường Lay trình diễn nghệ thuật hát Then của người Thái.

Tương tự, Nghệ nhân Ưu tú Lường Thị Đại (xã Thanh Yên) dành nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian Thái, đồng thời phối hợp tổ chức hàng chục lớp truyền dạy chữ Thái cổ, góp phần gìn giữ ngôn ngữ, chữ viết và các giá trị văn hóa dân tộc. Sau khi được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú năm 2015, bà vẫn tiếp tục với đam mê mãnh liệt là tìm hiểu truyền thống văn hóa Thái. Ngoài sưu tầm văn hóa dân gian, bà còn phối hợp với những người am hiểu văn hóa dân tộc Thái, chữ Thái cổ, tìm nguồn tài trợ từ các nguồn khác nhau để tổ chức hàng chục lớp truyền dạy tiếng Thái cổ, góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc. Ghi nhận những đóng góp của nghệ nhân với văn hóa dân tộc, Nhà nước đã trao tặng bà Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Ở xã Sính Phình, Nghệ nhân Ưu tú Sình A Tâu đã dành nửa đời người để gìn giữ tiếng khèn của đồng bào Mông. Những ngày nông nhàn, ông truyền dạy thanh niên thổi và múa khèn - nhạc cụ gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người Mông, từ lễ hội mùa xuân đến cưới hỏi, tiễn đưa người đã khuất. Âm điệu của khèn mang theo câu chuyện, nỗi niềm và khát vọng của con người, gửi gắm vào thiên nhiên đại ngàn. Mỗi ngành Mông lại có cách thổi, nhịp điệu và lối trình diễn khác nhau, phản ánh đặc trưng văn hóa riêng.

Hiện nay, nhiều nghệ nhân cũng là thành viên tích cực trong việc vận động, sáng lập Câu lạc bộ Bảo tồn văn hóa văn nghệ dân gian dân tộc Thái tỉnh Điện Biên với mục đích nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, văn nghệ dân gian dân tộc Thái tỉnh Điện Biên. Ngày mới thành lập Câu lạc bộ có 47 hội viên, đến nay Câu lạc bộ đã thu hút hàng trăm hội viên tham gia.

Tỉnh Điện Biên có 41 Nghệ nhân ưu tú (10 nghệ nhân đã qua đời) cư trú tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh, trong đó dân tộc Thái có 15 nghệ nhân, dân tộc Mông có 7 nghệ nhân, còn lại là các dân tộc khác. Theo loại hình di sản mà các nghệ nhân nắm giữ, các Nghệ nhân ưu tú chủ yếu nắm giữ ở loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian với 22 nghệ nhân; ngoài ra là các loại hình tập quán xã hội, tín ngưỡng; tiếng nói, chữ viết; tri thức dân gian; lễ hội.

Phát huy vai trò giữ và truyền lửa của các nghệ nhân

Các thành viên Câu lạc bộ Văn nghệ người cao tuổi phường Na Lay, thị xã Mường Lay trình diễn các điệu múa cổ.

Các thành viên Câu lạc bộ Văn nghệ người cao tuổi phường Na Lay, thị xã Mường Lay trình diễn các điệu múa cổ.

Theo ông Trần Hải Hà, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên, các nghệ nhân đã phát huy rất tốt vai trò trong cộng đồng, đặc biệt trong việc truyền dạy, lan tỏa hiểu biết vốn tri thức dân gian quý báu đến với cộng đồng,trong đó có thế hệ trẻ. Với khả năng thực hành các nghề truyền thống, nghệ thuật diễn xướng, tập quán xã hội, tín ngưỡng... các nghệ nhân ở các thôn, bản trên địa bàn tỉnh không ngừng nỗ lực gìn giữ, cống hiến, sáng tạo và trao truyền lại cho lớp cháu con. Họ tích cực tham gia các hội thi, hội diễn do ngành văn hóa các địa phương tổ chức.

Tuy nhiên, hiện nay, số nghệ nhân giàu kinh nghiệm, giỏi nghề truyền thống, giỏi nghệ thuật diễn xướng, nắm giữ những tri thức quý của cha ông ngày càng lớn tuổi và dần ít đi, trong khi lớp trẻ không mấy mặn mà, hoặc chưa đủ sức để kế tục, để giữ ngọn lửa văn hóa của dân tộc. Vì vậy, trong nhiều giải pháp mà tỉnh Điện Biên triển khai để gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, giải pháp quan trọng nhất là quan tâm, chăm sóc, phát huy vai trò giữ lửa và truyền lửa của các nghệ nhân trong cộng đồng.

Ông Trần Hải Hà cho biết, tỉnh Điện Biên đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên đối với các nghệ nhân ưu tú như: Hỗ trợ thành lập và tổ chức hoạt động đối với các câu lạc bộ, nhóm thực hành di sản. Hiện nay tỉnh đã thành lập Hội văn hóa dân tộc Thái tỉnh Điện Biên. Các nghệ nhân có thu nhập thấp được hưởng trợ cấp sinh hoạt hằng tháng, hỗ trợ bảo hiểm y tế, hỗ trợ mai táng phí khi qua đời; hỗ trợ nghệ nhân ưu tú tham gia các hoạt động lưu truyền, phổ biến di sản văn hóa phi vật thể và đào tạo, bồi dưỡng, truyền dạy những người kế cận; hỗ trợ kinh phí cho nghệ nhân, người thực hành tham gia hướng dẫn, tập huấn, truyền dạy cho cộng đồng.

Đặc biệt, trong những năm qua, tỉnh đã thực hiện Dự án 6 “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngành văn hóa tỉnh Điện Biên đã tổ chức các lớp tập huấn và truyền dạy văn hóa phi vật thể như truyền dạy nghề làm trang phục dân tộc Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Dao, Mông; chế tác khèn dân tộc Mông, truyền dạy viết chữ Dao, nghề đan lát dân tộc Si La, bảo tồn môn thể thao truyền thống các dân tộc... Tỉnh cũng tổ chức bảo tồn lễ hội truyền thống tiêu biểu các dân tộc thiểu số như: Lễ Tra hạt của dân tộc Khơ Mú; Lễ cúng tổ tiên của dân tộc Thái, ngành Thái trắng; Lễ mừng cơm mới của dân tộc Cống; lễ Cúng thần rừng và lễ Cúng lá lúa của dân tộc Kháng...

Cuộc sống càng hiện đại, nhiều di sản của đồng bào các dân tộc thiểu số lại có xu hướng trở nên mờ nhạt, giới trẻ dần đánh mất bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Trước những thách thức của quá trình phát triển tất yếu, nghệ nhân chính là những người lưu giữ lại giá trị văn hóa, những bản sắc riêng của cộng đồng các dân tộc. Họ là những người nắm giữ, truyền dạy kiến thức, kỹ năng và giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ, đồng thời góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Thôn Bằng Cả, xã Quảng La là nơi có trên 97% dân số là đồng bào Dao Thanh Y. Cộng đồng nơi đây được hình thành từ khoảng 300 năm trước và đến nay vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa đặc sắc.

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Trải dài từ những dấu tích văn hóa hàng nghìn năm trước đến các căn cứ cách mạng ghi dấu những thời khắc lịch sử của dân tộc, hệ thống di tích ở Tây Ninh đang được bảo tồn, phát huy giá trị, góp phần gìn giữ, lan tỏa bản sắc văn hóa địa phương; đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Sáng 2/8, trong khuôn khổ Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết năm 2026, nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân, ngư dân và du khách tham gia. Đây là nghi thức tiêu biểu của lễ hội, phản ánh tín ngưỡng thờ Cá Ông và đời sống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân vùng biển Lâm Đồng.

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.