Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, Nghệ nhân Ưu tú Sầm Thị Xanh còn khéo léo đưa văn hóa Thái trở thành nhịp cầu phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững cho bà con dân bản.
Miệt mài tìm lại "vàng son" của dân tộc
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống, bà Sầm Thị Xanh (sinh năm 1959) luôn mang trong mình niềm tự hào về tiếng nói, chữ viết và những làn điệu dân ca của dân tộc mình. Chứng kiến những nét văn hóa đặc sắc có phần mai một theo thời gian, bà Xanh không khỏi trăn trở.
Năm 2009, bà bắt đầu hành trình tự học, đi khắp nơi sưu tầm các làn điệu Thái cổ, các tác phẩm văn hóa dân gian. Từ niềm đam mê cháy bỏng, bà đã thành lập Câu lạc bộ (CLB) Bảo tồn văn hóa Thái với 8 thành viên ban đầu. Bằng sự kiên trì, bà dần lan tỏa tình yêu văn hóa đến cộng đồng. Đến năm 2019, mô hình này đã được tỉnh Nghệ An công nhận là CLB điển hình cấp tỉnh.
Không chỉ giữ cho riêng mình, bà Xanh còn là người "đưa văn hóa vào trường học". Từ bậc Tiểu học đến THCS, PTDT Nội trú, đâu đâu cũng in dấu chân bà với những giờ dạy hát, dạy chữ Thái cổ. Đến nay, hơn 200 học trò của bà đã có thể viết thạo chữ Thái, hát vang những điệu nhuôn, lăm, đặc biệt là bài hát dân ca "Nộc xáu hằn cù cu..." đầy bản sắc.
Với bà Xanh, bảo tồn văn hóa phải đi đôi với phát triển đời sống kinh tế. Tận dụng tiềm năng du lịch cộng đồng tại địa phương, bà đã cùng các thành viên của Hợp tác xã du lịch cộng đồng khôi phục các ngành nghề truyền thống, xây dựng quy chế hoạt động bài bản.
Khách du lịch đến với bản Hoa Tiến 2 không chỉ được ngắm nhìn danh lam thắng cảnh mà còn được trải nghiệm những nét văn hóa tâm linh như lễ buộc chỉ cổ tay cầu may, được khoác lên mình những bộ váy áo thổ cẩm rực rỡ. Như lời thơ bà thường ngâm nga: “Khăn Piêu em đội đầu/Váy thêu màu bảy sắc/Sợi chỉ hông em cột/Níu hồn người đi xa”.
Bà Xanh cho biết: “Hiện nay tôi đã xây dựng thành công 3 làng nghề và 7 Homestay phục vụ du khách. Quan trọng hơn, hoạt động này đã tạo công ăn việc làm cho hơn 400 hộ gia đình, mang lại thu nhập ổn định, giúp bà con vươn lên thoát nghèo trên chính mảnh đất quê hương”.
"Người có uy tín" giữa lòng dân
Không chỉ là một nghệ nhân tài hoa, bà Sầm Thị Xanh còn là một "Người có uy tín" gương mẫu. Bà luôn sát cánh cùng các tổ chức đoàn thể để thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Từ việc vận động thanh niên nhập ngũ đến tham gia ngăn chặn các tệ nạn như trộm cắp, ma túy, đánh bạc… bà Xanh đều có mặt kịp thời.
Trong bản, trong xã hễ có chuyện xích mích, mâu thuẫn gia đình hay hàng xóm, bà Xanh lại đến tận nơi để hòa giải bằng cái tình, cái lý của người con bản Thái. Nhờ đó, nhiều năm qua, bản Hoa Tiến 2 luôn giữ vững sự bình yên, không có tệ nạn xã hội, đời sống tinh thần của bà con ngày càng khởi sắc.
Với những cống hiến bền bỉ, năm 2022, bà Sầm Thị Xanh đã vinh dự được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú. Đặc biệt, bà còn được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Chia sẻ về những việc mình làm, bà nói: "Những việc nhỏ của tôi là những việc làm thật, kết quả thật ít nhiều mang giá trị tinh thần và lan tỏa cho cộng đồng, đó cũng là thành công của người có uy tín. Tôi cho rằng, phải có niềm đam mê và cống hiến hết mình vì cộng đồng thì mới thực sự thành công".
Hành trình của Nghệ nhân Ưu tú Sầm Thị Xanh là minh chứng rõ nét cho sức mạnh của sự tâm huyết. Bà không chỉ là người giữ hồn cốt cho văn hóa Thái mà còn là tấm gương sáng về tinh thần đổi mới, sáng tạo, góp phần đưa vùng đất Quỳ Châu ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn