Tốt nghiệp chương trình cao đẳng ngành Dược tại Huế, cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều Hồ Thị Thiết (sinh năm 2002) không chọn ở lại thành phố lập nghiệp như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Với tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Thiết đã chọn trở về thôn Chênh Vênh, xã biên giới Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), nơi mình sinh ra và lớn lên.
Từ căn nhà sàn quen thuộc giữa đại ngàn Trường Sơn, cô gái trẻ từng bước xây dựng Đoong Bui Homestay - mô hình du lịch cộng đồng, mang đậm bản sắc của đồng bào Bru - Vân Kiều. Hành trình ấy không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế cho gia đình mà còn góp phần quảng bá văn hóa dân tộc, đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng, lan tỏa tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến cho quê hương của tuổi trẻ vùng biên.
Từ ngôi nhà sàn mở lối đón khách
Nằm dưới chân dãy Trường Sơn hùng vĩ, thôn Chênh Vênh được thiên nhiên ưu đãi với cảnh quan nguyên sơ, khí hậu trong lành cùng những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Bru - Vân Kiều. Tuy nhiên, trong nhiều năm, những lợi thế, tiềm năng ấy vẫn chưa được khai thác hiệu quả.
Qua tìm hiểu trên mạng internet, báo chí và các mô hình du lịch cộng đồng thành công ở nhiều địa phương, Thiết nhận ra quê hương mình có rất nhiều nét hấp dẫn riêng nhưng chưa được nhiều người biết đến. Đó là những ngôi nhà sàn truyền thống, các món ăn mang đậm hương vị núi rừng, làn điệu dân ca, phong tục tập quán được lưu giữ qua nhiều thế hệ cùng cảnh sắc thiên nhiên mang vẻ đẹp hoang sơ, huyền bí, trong đó có thác Chênh Vênh.
Chị Hồ Thị Thiết chia sẻ: Nhìn những địa phương khác làm du lịch rất tốt, chị nghĩ tại sao quê hương mình có nhiều tiềm năng như vậy mà chưa phát triển được. Chị mong muốn làm một điều gì đó để quảng bá về bản làng, quê hương và tạo thêm sinh kế cho người dân. Ý tưởng ấy càng được củng cố khi chị tham gia các lớp tập huấn, chương trình hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng và khởi nghiệp dành cho thanh niên được tổ chức tại địa phương. Những kiến thức được tiếp cận cùng sự động viên từ các tổ chức, dự án phát triển cộng đồng đã tiếp thêm cho cô gái trẻ sự tự tin để bắt tay hiện thực hóa ước mơ.
Nhưng những ngày đầu khởi nghiệp không hề dễ dàng. Hồ Thị Thiết cho hay, trở ngại lơn nhất với cô không chỉ là nguồn vốn hạn hẹp mà còn là sự e dè của người dân địa phương. Với đồng bào Bru - Vân Kiều, ngôi nhà sàn không chỉ là nơi che mưa, che nắng mà còn là không gian lưu giữ ký ức gia đình, nơi gắn kết các thế hệ và mang nhiều ý nghĩa văn hóa, tâm linh. Đặc biệt, gian giữa ngôi nhà từ lâu được xem là nơi trang trọng nhất, không phải ai cũng có thể tùy tiện bước vào. Vì vậy, việc mở cửa đón khách lưu trú từng là điều khó được chấp nhận. Nhưng chị quyết tâm và kiên trì thuyết phục gia đình rằng du lịch không làm mất đi bản sắc văn hóa mà ngược lại còn giúp những giá trị ấy được gìn giữ và lan tỏa rộng rãi hơn. Mỗi vị khách khi đến với bản làng không chỉ giúp tạo nguồn thu nhập mà còn là cơ hội để văn hóa Bru - Vân Kiều được biết đến nhiều hơn.
Nhận được sự đồng thuận và ủng hộ từ phía gia đình, Đoong Bui Homestay được hình thành, mang theo ước mơ và khát vọng của cô gái trẻ Hồ Thị Thiết nơi miền biên viễn. Để có kinh phí cải tạo cơ sở vật chất phục vụ du khách, Thiết phải vay mượn thêm và trực tiếp tham gia vào mọi công việc, từ cải tạo nhà cửa, chỉnh trang cảnh quan, xây dựng lịch trình trải nghiệm đến giới thiệu văn hóa địa phương.
Một cánh cửa mới đã mở ra từ chính ngôi nhà sàn quen thuộc của gia đình dưới chân dãy Trường Sơn. Với tâm huyết, sự sáng tạo và khát vọng tuổi trẻ cùng tình yêu quê hương mãnh liệt của cô gái trẻ, Đoong Bui Homestay được chăm chút, yêu thương và ngày càng phát triển. Hiện nay, ba căn nhà sàn của gia đình Thiết có thể phục vụ từ 40-50 khách mỗi đợt. Mỗi năm, homestay của đón khoảng 400 lượt khách trong và ngoài tỉnh.
Chị Hồ Thị Thiết cho biết: Trước đây để mua được một chiếc nồi cơm điện hay vật dụng sinh hoạt trong nhà, gia đình phải dành dụm rất lâu. Nay nhờ làm du lịch, cuộc sống đã bớt khó khăn hơn, gia đình có thêm điều kiện đầu tư cơ sở vật chất phục vụ du khách và nâng cao chất lượng cuộc sống. Điều đó giúp chị có thêm niềm tin để tiếp tục theo đuổi con đường mình đã chọn.
Hành trình mà chị Thiết đang đi bước đầu đã đơm hoa và kết trái ngọt, Đoong Bui Homestay và thôn Chênh Vênh dần định hình trên bản đồ du lịch quê hương, bản làng vùng biên cũng ngày càng khởi sắc. Đặc biệt, với sự mạnh dạn, dám nghĩ dám làm và khát vọng cống hiến cho cộng đồng, chị Hồ Thị Thiết vinh dự là một trong 20 gương mặt trẻ của tỉnh nhận Giải thưởng “Gương mặt trẻ tiêu biểu tỉnh Quảng Trị” lần thứ I.
Đánh thức tiềm năng từ bản làng vùng biên
Cách homestay khoảng 1km là thác Chênh Vênh – điểm đến nổi tiếng với vẻ đẹp nguyên sơ giữa đại ngàn Trường Sơn. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của du lịch cộng đồng, nhận thức của người dân về làm du lịch gắn với bảo vệ môi trường đã có nhiều chuyển biến tích cực. Người dân trong bản đã biết cách khai thác các sản phẩm địa phương, bán các món ăn truyền thống của địa phương phục vụ du khách và chủ động hơn trong việc giữ gìn cảnh quan môi trường.
Chị Hồ Thị Thiết bày tỏ: “Điều khiến em vui nhất không chỉ là số lượng khách tăng lên mà thấy bà con bắt đầu nhìn du lịch như một cơ hội phát triển mới cho bản làng. Nếu trước đây mọi người nghĩ chỉ có làm rẫy mới có thu nhập thì nay nhiều người đã thấy những giá trị sẵn có của quê hương cũng có thể tạo sinh kế nếu biết khai thác đúng cách”.
Không chỉ tạo thêm thu nhập cho gia đình, Đoong Bui Homestay còn tạo việc làm thời vụ cho phụ nữ trong bản. Mỗi khi có đoàn khách đông, Thiết đều mời thêm bà con đến hỗ trợ nấu ăn, phục vụ và tham gia các hoạt động trải nghiệm văn hóa. Những thay đổi ấy tuy chưa lớn nhưng đang hiện hữu từng ngày ở Chênh Vênh. Đó là những ngôi nhà sàn được gìn giữ, ý thức bảo vệ môi trường được nâng lên và niềm tin của người dân vào hướng phát triển từ chính những giá trị truyền thống của bản làng. Thông qua du lịch, người dân có thể giữ lại những ngôi nhà sàn truyền thống, gìn giữ văn hóa, ẩm thực và giới thiệu cuộc sống của đồng bào Bru - Vân Kiều đến với du khách. Đó là điều quý hơn tiền bạc...
Anh Nguyễn Quốc Toản, Phó Bí thư Tỉnh đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị cho biết, câu chuyện của chị Hồ Thị Thiết là hình ảnh đẹp về một thanh niên dân tộc thiểu số dám vượt qua những rào cản về tư duy để khởi nghiệp từ chính những giá trị văn hóa địa phương. Điều đáng trân trọng ở cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều không chỉ nằm ở việc xây dựng thành công một mô hình homestay mà còn ở cách chị biết phát huy những lợi thế sẵn có của quê hương để tạo ra giá trị mới.
Từ những ngôi nhà sàn truyền thống, nét văn hóa đặc sắc của đồng bào, cảnh quan thiên nhiên vùng biên, chị đã từng bước biến tiềm năng thành sản phẩm du lịch cộng đồng mang dấu ấn riêng. Mô hình Đoong Bui Homestay và hành trình của Hồ Thị Thiết là minh chứng sinh động cho tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của thanh niên Quảng Trị, đặc biệt là thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó có thể thấy, đổi mới sáng tạo có thể bắt đầu từ chính những điều gần gũi nhất, từ việc nhận diện tiềm năng của quê hương, mạnh dạn nghĩ khác, làm khác và kiên trì theo đuổi mục tiêu đã chọn. Khát vọng của tuổi trẻ sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được đặt trong khát vọng phát triển của quê hương và trách nhiệm đóng góp cho cộng đồng. Câu chuyện của Thiết là nguồn cảm hứng để nhiều thanh niên mạnh dạn lập thân, lập nghiệp trên chính mảnh đất nơi mình sinh ra.
Hành trình sáng tạo của Hồ Thị Thiết vẫn đang tiếp tục. Từ căn nhà sàn giữa đại ngàn, cô gái trẻ người Bru – Vân Kiều đã cho thấy rằng khát vọng cống hiến, sự mạnh dạn đổi mới và tình yêu quê hương có thể biến những tiềm năng tưởng chừng còn ngủ yên thành động lực phát triển. Từ Chênh Vênh hôm nay, một hướng đi mới đang được mở ra, không chỉ cho gia đình chị mà còn cho những bản làng vùng biên giàu bản sắc văn hóa ở dãy Trường Sơn./.
Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi
Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.
Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.
Dân số: 74.506 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.
Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.
Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.
Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.
Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.
Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.
Ở: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.
Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.
Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...
Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.
Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.
Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.
Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.
Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...
Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.
Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.
Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.
Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...
Theo cema.gov.vn