Ở làng Chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng, có một người cao tuổi vẫn lặng lẽ dành trọn tâm huyết cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp khối đoàn kết trong cộng đồng. Đó là già làng Thông Long, người có uy tín tiêu biểu của đồng bào Chăm, được bà con quý trọng bởi những đóng góp bền bỉ trong bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Để tiếng kèn Saranai mãi ngân vang
Ở tuổi ngoài 70, sức khỏe đã giảm sút dần theo năm tháng nhưng đôi mắt của già làng Thông Long vẫn ánh lên niềm vui mỗi khi nhắc đến loại nhạc cụ truyền thống gắn bó với cuộc đời mình. Ông Thông Long sinh năm 1955 trong một gia đình người Chăm còn nhiều khó khăn. Tuổi thơ của ông gắn liền với những lễ hội truyền thống của làng, nơi tiếng kèn Saranai hòa cùng tiếng trống Ghi năng, Paranưng tạo nên những thanh âm đặc trưng của văn hóa Chăm. Chính những âm thanh ấy đã gieo vào lòng cậu bé Thông Long niềm say mê đặc biệt.
Năm 13 tuổi, ông bắt đầu tìm đến các nghệ nhân lớn tuổi trong làng để học thổi kèn. Những ngày đầu, việc tập luyện vô cùng vất vả. Kèn Saranai đòi hỏi người chơi phải có kỹ thuật lấy hơi tốt, sự kiên trì và niềm đam mê thực sự. Không ít người bỏ cuộc giữa chừng nhưng cậu bé Thông Long khi ấy vẫn bền bỉ theo đuổi đến cùng. “Tôi mê tiếng kèn từ nhỏ. Nghe tiếng kèn trong các lễ hội là muốn học cho bằng được. Học rất khó nhưng càng học càng thấy yêu văn hóa của dân tộc mình”, ông chia sẻ.
Từ niềm đam mê thuở thiếu thời, ông dần trở thành một trong những nghệ nhân thổi kèn Saranai có tiếng của vùng đồng bào Chăm. Tiếng kèn của ông không chỉ hiện diện trong các lễ hội truyền thống mà còn góp phần giữ gìn những nghi lễ văn hóa đặc sắc của cộng đồng.
Đối với cộng đồng người Chăm tại Lâm Đồng, Saranai không đơn thuần là một nhạc cụ. Đây là nhạc khí thiêng liêng, gắn liền với đời sống tín ngưỡng, lễ hội và tâm thức cộng đồng. Cùng với trống Paranưng và trống Ghi năng, kèn Saranai là bộ ba nhạc cụ không thể thiếu trong các dịp lễ hội, lễ cúng của người Chăm từ xưa đến nay như: lễ hội múa Rija, lễ hội Katê…
Kèn Saranai có ba phần liền nhau. Phần miệng làm bằng đồng bên trong có gắn dăm kèn (lưỡi gà) bằng lá buông, phần thân làm bằng gỗ đục rỗng có bảy lỗ chính phía trên. Riêng phần loa kèn thường làm bằng loại gỗ quý đục rỗng ruột để khuếch đại âm thanh.
Theo ông Thông Long, không phải ai cũng thổi được Saranai. Cái khó nhất của nghệ thuật thổi kèn Saranai chính là kỹ thuật lấy hơi và giữ hơi thật lâu, bởi một điệu kèn Saranai không bao giờ được phép đứt quãng, thường phải hết 1 tiết mục mới dừng lại… Nhưng khó hơn cả là lòng kiên trì khổ luyện và tình yêu với văn hóa dân tộc của người chơi kèn.
Ông Thông Long đang truyền dạy kỹ thuật đẩy hơi khi thổi kèn saranai cho người học.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nhạc cụ truyền thống của dân tộc Chăm, ông Long luôn trăn trở làm sao để lớp trẻ tiếp tục yêu và gìn giữ âm nhạc truyền thống. “Tôi rồi cũng sẽ mất đi, nhưng tiếng kèn Saranai phải còn mãi. Tôi muốn dạy lại cho con cháu, cho lớp trẻ trong làng để sau này các em, các cháu tiếp tục phục vụ lễ hội, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình”, ông tâm sự.
Đau đáu với suy nghĩ đó, nhiều năm gần đây, ông Long biến căn nhà nhỏ của mình của mình trở thành lớp học thổi kèn Saranai miễn phí cho thanh thiếu niên trong làng. Từ cách lắp ráp các bộ phận của cây kèn, kỹ thuật lấy hơi đến việc cảm nhận từng làn điệu, ông đều hướng dẫn tỉ mỉ, tận tình. Hơn hết, ông còn dành tặng cho các học viên xuất sắc những chiếc kèn mà ông xem như của quý. Niềm vui lớn nhất của ông Thông Long không phải là được nhiều người biết đến với vai trò nghệ nhân thổi kèn Saranai, mà là nhìn thấy lớp trẻ trong làng tiếp nối con đường gìn giữ văn hóa dân tộc.
Trong số những học trò của ông, anh Thông Minh Tranh - con trai ông được xem là người kế thừa tiêu biểu. Sau 4 năm kiên trì học tập dưới sự hướng dẫn của cha, anh Tranh hiện đã thành thạo kỹ thuật thổi kèn Saranai và có thể thay thế ông tham gia biểu diễn trong các lễ hội truyền thống của làng.
Anh Tranh cho biết, từ khi còn nhỏ, mỗi dịp làng tổ chức các nghi lễ cúng tế hay lễ hội truyền thống, anh đã bị cuốn hút bởi âm thanh đặc biệt của cây kèn Saranai. Khi ấy, anh thường lén lấy kèn của cha để tập thổi. Càng trưởng thành, anh càng hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của những thanh âm ấy đối với đời sống văn hóa của đồng bào mình.
“Từ nhỏ tôi đã thích tiếng kèn Saranai nhưng chỉ khi lớn lên mới hiểu hết giá trị văn hóa mà cha ông để lại. Vì vậy tôi quyết tâm học bài bản từ cách lấy hơi, bắt nhịp, luyến láy cho đến phối hợp với các nhạc cụ khác. Là người con của đồng bào Chăm, mình phải có trách nhiệm tiếp nhận, giữ gìn và lưu truyền những giá trị văn hóa của dân tộc cho thế hệ mai sau”, anh Tranh chia sẻ.
Nghệ nhân Thông Long âm thầm gieo niềm đam mê chơi kèn saranai cho các thế hệ trẻ.
Cầu nối gắn kết cộng đồng
Bên cạnh vai trò gìn giữ văn hóa truyền thống, ông Thông Long còn là cầu nối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền xã Hàm Thuận Bắc với đồng bào Chăm tại địa phương. Với uy tín của mình, nhiều năm qua, ông luôn đồng hành cùng cấp ủy, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và chương trình xây dựng nông thôn mới.
Nhờ uy tín và sự gần gũi với bà con, những lời vận động của ông luôn nhận được sự đồng thuận cao. Khi địa phương triển khai các chủ trương mới, đặc biệt trong quá trình hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ông đã chủ động gặp gỡ, giải thích để người dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của chủ trương, từ đó tạo sự thống nhất trong cộng đồng. Đặc biệt, trong đợt mưa lũ năm 2025, khi nhiều hộ dân trong vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, ông đã chủ động trích một phần thu nhập của gia đình để chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Việc làm ấy tuy giản dị nhưng thể hiện rõ tinh thần tương thân tương ái, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.
Trong đời sống thường ngày, ông Thông Long luôn được bà con tin tưởng bởi tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm với cộng đồng. Mỗi khi trong làng có gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn, ông đều tích cực vận động hỗ trợ hoặc trực tiếp giúp đỡ bằng khả năng của mình.
Ông Đồng Gặt, thôn Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc cho biết, không chỉ riêng ông Thông Long mà cả gia đình ông đều luôn sẵn sàng giúp đỡ bà con khi gặp khó khăn. Chính những hành động cụ thể ấy đã giúp ông Thông Long trở thành chỗ dựa tinh thần của nhiều người dân trong làng.
Già làng Thông Long là một trong số hiếm hoi nghệ nhân thổi kèn saranai ở làng chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng.
Ông Bùi Đình Tuấn, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Hàm Thuận Bắc đánh giá, ông Thông Long là một trong những người có uy tín tiêu biểu của địa phương. Là một nghệ nhân, ông Thông Long tích cực truyền dạy nhạc cụ dân tộc cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc Chăm tại địa phương. Ông Long không chỉ gương mẫu trong phát triển kinh tế gia đình, xây dựng nông thôn mới mà còn tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là trong quá trình địa phương triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đặc biệt, ông là người đi đầu trong tuyên truyền, vận động bà con thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Tuổi đã cao nhưng ông Thông Long vẫn miệt mài tham gia các hoạt động cộng đồng, âm thầm vun đắp những giá trị văn hóa truyền thống và khối đoàn kết cộng đồng bằng những việc làm thiết thực mỗi ngày. Ông trở thành biểu tượng đẹp về vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn