Lễ được tổ chức trong không gian trước nhà Rông, trung tâm sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của buôn làng. Trước ngày diễn ra nghi lễ, già làng thông báo để các gia đình cùng chuẩn bị. Từ sáng sớm, người dân tập trung dựng cây nêu, giã gạo, chế biến thức ăn và sắp xếp khu vực hành lễ.
Lễ vật dâng cúng gồm lợn, gà, cơm lam, lúa, gạo, rượu cần cùng các sản vật đặc trưng của địa phương. Khi lễ vật được bày biện trang trọng bên cây nêu, già làng thực hiện nghi thức khấn Yàng, cầu mong người già khỏe mạnh, trẻ nhỏ bình an, cây lúa đầy bông, bắp nhiều hạt, các gia đình thuận hòa và buôn làng ngày càng no ấm.
Sau phần lễ trang nghiêm, tiếng cồng chiêng, tiếng trống vang lên, mở đầu phần hội. Người dân cùng uống rượu cần, hòa mình vào những điệu xoang uyển chuyển quanh cây nêu. Các thế hệ trong buôn làng nối vòng tay, chia sẻ niềm vui và khát vọng về cuộc sống đủ đầy.
Lễ Sơmă Kơcham không chỉ phản ánh đời sống tâm linh của người Bahnar, mà còn là dịp trao truyền phong tục, nghệ thuật cồng chiêng, múa xoang và tri thức dân gian. Việc duy trì nghi lễ góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời giới thiệu hình ảnh con người, vùng đất Gia Lai đến với du khách.
Tên tự gọi: Ba Na.
Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...
Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Dân số: 227.716 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Cái cuốc là công cụ chủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này. Với ruộng khô thì việc thâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy. Ruộng khô thường ở vùng ven sông suối. Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càng phát triển ở nhiều nơi. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưa phát triển.
Ở: Ðịa bàn cư trú của người Ba Na trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa. Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng, ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút. Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng, cho nam, nữ và cho mọi lứa tuổi. Gùi nhiều kích cỡ to nhỏ và nhiều chủng loại, đan mau và thưa nhưng đều theo một mô típ cổ truyền.
Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh và duy nhất. Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Sự tan rã của chế độ mẫu hệ ở đây đã nâng cao địa vị của nam giới nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn. Sau hôn nhân còn phổ biến tập quán cư trú phía nhà vợ. Xã hội có người giàu, người nghèo và tôi tớ.
Theo cema.gov.vn