Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng

Không gian kiến trúc bên ngoài chùa Kh’leang thu hút du khách bằng tông màu vàng rực rỡ. Ảnh: An Hiếu
Không gian kiến trúc bên ngoài chùa Kh’leang thu hút du khách bằng tông màu vàng rực rỡ. Ảnh: An Hiếu

Là một ngôi chùa cổ của người Khmer, chùa Kh’Leang là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của đông đảo người dân địa phương. Với phong cách kiến trúc – điêu khắc không chỉ thuần Khmer mà còn thể hiện sự giao thoa với văn hóa Hoa – Việt, chùa được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia và là một trong những điểm đến của du khách, khi ghé thăm Sóc Trăng.  

Nằm ở số 53 đường Tôn Đức Thắng, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, chùa Kh’Leang là một trong những chùa Khmer có lịch sử lâu đời và kiến trúc đẹp nhất của khu vực Nam Bộ. Chùa Kh’Leang cũng là công trình tôn giáo đầu tiên của người Khmer trên mảnh đất Sóc Trăng. Theo các thư tịch cổ, chùa được xây dựng từ năm 1533, lúc đầu chỉ là ngôi chùa lợp lá, sau nhiều lần trùng tu được xây cất bằng gạch ngói. Kiến trúc hiện nay có từ đợt trùng tu lớn cuối thập niên 1910

 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 1Vào những ngày lễ lớn của đồng bào Khmer, chùa Kh’Leang được trang hoàng lộng lẫy với cờ phướn xung quanh chánh điện. Ảnh: An Hiếu 
 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 2Không gian kiến trúc bên ngoài chùa Kh’Leang thu hút du khách bằng tông màu vàng rực rỡ. Ảnh: An Hiếu

Ngôi chùa có tuổi đời 500 năm này có khuôn viên rộng lớn, tổng diện tích 3.825 m2 và được che bóng mát bởi các hàng cây cổ thụ, trong đó nhiều nhất là thốt nốt. Phần lớn các công trình trong khuôn viên chùa xây dựng theo kiểu nhà sàn truyền thống của dân tộc Khmer Nam bộ xưa và được điêu khắc, trang trí màu sắc rực rỡ với họa tiết, hoa văn tinh xảo, cầu kỳ.

Tổng thể kiến trúc chùa gồm có: chính điện, sala, nhà ở của sư trụ trì, nhà ở của sư sãi, các tháp đựng tro cốt người chết, lò thiêu, nhà khách, hội trường, trường Trung cấp Pali Nam Bộ..., trong đó nổi bật nhất là chính điện nằm biệt lập ở bên trái con đường dẫn vào chùa.

 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 3Không gian bên trong chùa Kh’Leang là một tác phẩm nghệ thuật làm bằng gỗ được chạm khắc rất công phu từ các nghệ nhân Khmer. Ảnh: An Hiếu 
 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 4Vào những dịp lễ lớn, chùa Kh’Leang thường đón nhiều du khách thập phương, đồng bào Khmer đến chiêm bái. Ảnh: An Hiếu

Ngôi chính điện chùa Kh’Leang là nơi tập hợp nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Toàn bộ cửa sổ và cửa chính đều được làm bằng gỗ, chạm khắc công phu từ các nhân vật tiên nữ phối hợp các loại hình kỷ hà, hoa lá... với bố cục gọn gàng, đường nét uyển chuyển. Bao quanh trong và ngoài chính điện là các cột làm bằng gỗ quý, to lớn và được sơn son thiếp vàng. Trên đầu mỗi cột đều có tượng Krud như đang giang tay chống đỡ mái chùa. Còn các bậc thang dẫn lên chính điện thì được trang trí bằng tượng thần Teahu và tượng Chằn.

Mái chùa được xây theo ba nếp, nếp giữa lớn hơn hai nếp phụ. Bờ viền mái nóc còn có tượng rồng uốn lượn, đầu xòe hình rẻ quạt, đuôi cong độc đáo. Bên trong chính điện thờ các vị tượng Phật theo tín ngưỡng của người Khmer. Đặc biệt có bức tượng Phật cao 6,8m, phần thân tượng cao 2,7m và được đúc vào năm 1916. Bức tượng uy nghiêm được đặt trên tòa hoa sen tỏa ánh hào quang bằng điện. Ngoài ra, chính điện còn được trang trí bằng những hình ảnh về cuộc đời của Đức Phật.

 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 5Hình tượng rắn Naga trong khuôn viên chùa Kh’Leang. Ảnh: An Hiếu 
 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 6Các hình tượng mang đặc trưng của văn hóa Khmer trong khuôn viên chùa Kh’Leang. Ảnh: An Hiếu 

So với nhiều ngôi chùa Khmer khác của Sóc Trăng, chùa Kh’Leang còn giữ lại những nét độc đáo của lối kiến trúc Khmer cổ, rất có giá trị về mặt nghệ thuật và tính thẩm mỹ. Không những vậy, ngoài đặc điểm chủ đạo theo kiến trúc hoa văn Khmer, trong chánh điện còn đan xen một số hình ảnh, hoa văn họa tiết trang trí của người Kinh ở bức cửa võng và của người Hoa trên các thân cột trụ, hình cá chép, rồng và các chữ Hán được vẽ trên các thân cột.

Điều này phản ánh sự giao thoa văn hóa trên lĩnh vực trang trí, nghệ thuật giữa 3 dân tộc vốn có quá trình cộng cư lâu dài trên vùng đất Sóc Trăng. Điều lý thú là tủ sách trưng bày trong chính điện nếu nhìn kỹ sẽ thấy các lá buông có chữ Khmer cổ, đây là những nội dung kinh Phật viết trên lá buông, được nhà chùa cẩn thận gìn giữ.

 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 7Bà con phật tử Khmer thực hiện nghi thức độ thực trong khuôn khổ Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer tại chùa Kh’Leang. Ảnh: An Hiếu
 Kiến trúc đặc sắc của chùa Kh’Leang ở Sóc Trăng ảnh 8Các Chư Tăng Khmer trong khuôn viên chùa Kh’Leang. Ảnh: An Hiếu

Với những giá trị to lớn về lịch sử và kiến trúc, chùa Kh’Leang đã được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia của Việt Nam. Đây là một điểm tham quan hấp dẫn không chỉ của tỉnh Sóc Trăng mà còn của cả khu vực Nam Bộ. Ngoài phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, chùa Kh’Leang còn là nơi sinh hoạt truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer thông qua các ngày lễ hội hàng năm và các hoạt động văn hóa khác. Nhiều nghi lễ truyền thống được tổ chức long trọng tại chùa như Chôl Chnăm Thmây (Lễ vào năm mới), Sene Đôl Ta (Lễ cúng ông bà), Oóc-Om-Bóc (Lễ cúng trăng),… 

Tưởng Chí Cường

(Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữa cái nắng đầu hè trên miền đá cực Bắc, sân Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Sủng Là, xã Sà Phìn (Tuyên Quang) lại rộn ràng bởi những thanh âm đặc biệt. Tiếng khèn Mông sau lúc ngập ngừng đã ngân lên thành nhịp, hòa cùng tiếng cười của những đứa trẻ vùng cao khiến không gian ngôi trường nhỏ giữa cao nguyên đá trở nên sống động, vui tươi hơn.

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Từng được kỳ vọng là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu tham quan, giáo dục truyền thống cho học sinh và người dân trên địa bàn, nhưng thời gian gần đây, Bảo tàng Phù Cát (xã Phù Cát, tỉnh Gia Lai) lại rơi vào tình trạng xuống cấp, hoang hóa với thời gian.

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

UBND tỉnh Khánh Hòa đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị tổ chức “Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI” với quy mô cấp quốc gia. Thông qua các hoạt động của ngày hội, tỉnh hướng tới quảng bá nét đẹp văn hóa, con người đồng bào Chăm đến người dân và du khách trong, ngoài nước; đồng thời góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Tối 12/5/2026, tại thành phố Hải Phòng đã diễn ra chương trình biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc. Chương trình có sự góp mặt của hàng trăm nghệ sĩ đến từ đoàn nghệ thuật tỉnh Lào Cai, mang tới sắc màu rực rỡ góp thêm vào bức tranh đa sắc màu của Lễ hội Hoa Phượng đỏ 2026. 

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Không đơn thuần là nơi gặp gỡ của những mối tình xưa, chợ tình Khâu Vai (xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang) hôm nay đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt - nơi ký ức, phong tục của đồng bào vùng cao tiếp nối qua nhiều thế hệ. Mỗi năm vào tháng Ba âm lịch, Khâu Vai lại rộn ràng trong tiếng khèn, tiếng hát giao duyên và sắc váy rực rỡ của đồng bào các dân tộc.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

Ngày 10/5, UBND xã Xuân Dương (tỉnh Thái Nguyên) đã khai mạc Lễ hội văn hóa truyền thống “Chợ tình Xuân Dương” năm 2026. Việc tổ chức lễ hội truyền thống này nhằm tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, nơi những câu hát Sli, hát Lượn làm say lòng du khách thập phương.

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Ngày 9/5, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nga My (Nghệ An) tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” và kỷ niệm 20 năm thành lập bản tái định cư Văng Môn - nơi sinh sống tập trung đông dân cư nhất của đồng bào Ơ Đu trên địa bàn tỉnh.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Tối 8/5, tại Sơn La đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Hương sắc vùng cao” năm 2026. Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức nhằm tôn vinh, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao; góp phần tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Giữa không gian đá xám của vùng cao Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, có những căn nhà nhỏ luôn đỏ lửa từ sáng sớm. Trong làn khói mỏng quyện mùi sáp ong thơm dịu, những người phụ nữ Mông lặng lẽ cúi mình bên tấm vải lanh, đôi tay thoăn thoắt đưa từng nét vẽ bằng chiếc bút đồng nhỏ bé. Ở nơi ấy, vẽ sáp ong không chỉ là một nghề thủ công mà còn là cách người Mông gửi vào tấm vải những ký ức của cộng đồng, những quan niệm về cuộc sống và cả sự gắn bó với núi rừng đá xám.

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Tối 7/5, UBND phường Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà năm 2026, tại khu vực Vườn hoa phố đi bộ đường Đà Giang. Đây là hoạt động văn hóa tâm linh mang đậm bản sắc dân tộc; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước.

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Giữa miền biên viễn nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, sau phiên chợ tình Khâu Vai một ngày, đồng bào các dân tộc lại tìm về với chợ Phong lưu Sơn Vĩ ở xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang. Không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa, chợ Phong lưu Sơn Vĩ còn là không gian văn hóa đậm sắc màu truyền thống, nơi lưu giữ những câu chuyện tình yêu mộc mạc, thủy chung của đồng bào vùng cao.

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Nằm ở vùng đất đỏ miền Đông, sau khi sáp nhập xã Bom Bo cũ và Bình Minh cũ, xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) hôm nay không chỉ được biết đến như một biểu tượng của tinh thần kháng chiến quật khởi mà còn là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của người S'tiêng.

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Việc đưa di sản văn hóa vào trường học không còn là câu chuyện mang tính khuyến khích, mà đang dần trở thành một yêu cầu tất yếu. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức, mà còn là hành trình hình thành nhân cách, bồi đắp tâm hồn và xây dựng văn hóa cho thế hệ trẻ. 

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm là nét văn hóa đặc trưng, thể hiện sự khéo léo của đồng bào M'nông, là sự tiếp nối của một nghề truyền thống lâu đời. Vải thổ cẩm được dệt hoàn toàn trên khung cửi truyền thống, từ những kỹ năng, sự sáng tạo và kiên nhẫn của những người phụ nữ M’nông đã tạo ra những trang phục truyền thống với những hoa văn, họa tiết sặc sỡ mang sắc thái đặc sắc của cộng đồng.

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Chè đâm là thức uống dân dã nhưng độc đáo của đồng bào Thái miền Tây Nghệ An; không chỉ gây ấn tượng bởi tên gọi lạ mà còn bởi cách chế biến công phu và hương vị đặc trưng. Từ những lá chè rừng được giã nhuyễn trong cối gỗ, cối đá, ống tre, người Thái đã tạo nên một loại nước giải khát mang đậm dấu ấn văn hóa, khiến du khách một lần thưởng thức là nhớ mãi.

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Trong chuỗi hoạt động chào mừng Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, chương trình dân ca, dân vũ “Tình ca Tây Nguyên” diễn ra tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã mang đến không gian đậm sắc màu đại ngàn, thu hút đông đảo du khách.

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữa trùng điệp đá tai mèo nơi địa đầu cực Bắc, Cao nguyên đá Đồng Văn không chỉ là một vùng địa chất độc đáo, mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ ký ức hàng trăm triệu năm của trái đất, hòa quyện với đời sống văn hóa của các cộng đồng dân tộc.

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Tối 30/4, UBND xã Măng Đen tổ chức chương trình nghệ thuật “Măng Đen – Khát vọng vươn xa”. Đây là hoạt động trọng tâm trong chuỗi các sự kiện văn hóa – nghệ thuật của Khu du lịch sinh thái Măng Đen nhân dịp kỷ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam – Thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 1/5.