Quay lại
Kinh lá Buông, Di sản văn hóa phi vật thể của người Khmer An Giang

Kinh lá Buông, Di sản văn hóa phi vật thể của người Khmer An Giang

Kinh lá Buông của người Khmer An Giang là một trong những di sản văn hóa độc đáo thể hiện sự khéo léo, tài năng sáng tạo trong trình độ kỹ thuật và tri thức của người Khmer. Tỉnh An Giang đã phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Văn hóa Phi Vật thể Quốc gia “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá Buông của người Khmer tỉnh An Giang” và sẽ xây dựng hồ sơ đăng ký công nhận di sản tư liệu tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer ở tỉnh An Giang, thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO.

3G0A0219cp1.jpg
Chùa Sà Lôn (xã Lương Phi, Tri Tôn, An Giang) từ lâu được biết đến là nơi còn lưu giữ kỹ thuật viết kinh trên lá buông của đồng bào dân tộc Khmer vùng Bảy Núi, nơi có hòa thượng Chau Sơn Hy, Sư cả của chùa nắm rõ những tinh túy của kỹ thuật viết kinh trên lá buông. Trong ảnh: Các sư sãi trong một buổi học cách viết kinh trên lá buông do anh Kim Som Ry Thi, giảng viên được chùa Sà Lôn mời về truyền dạy. Ảnh: Trọng Chính

Lá buông là lá của cây buông, một loại cây lá xòe giống như cây cọ, cây thốt nốt, ngày nay cây này rất hiếm gặp ở An Giang.

Theo Hòa thượng Chau Sơn Hy, trụ trì chùa Sà Lôn (xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, An Giang) thì kinh được chép trên lá buông chủ yếu là giáo lý của đức Phật răn dạy con người làm điều lành. Kinh thường chỉ được mở ra thuyết pháp vào những dịp quan trọng như lễ Phật Đản, lễ dâng bông, lễ dâng y cà sa, lễ cúng trăng, lễ cúng ông bà… của đồng bào Khmer. Ngoài kinh Phật, lá buông còn được dùng để ghi chép các nội dung về văn học, lịch pháp, y học, những câu chuyện kể về các hiện tượng của đời sống xã hội...

3G0A0710cp2.jpg
Các bộ kinh lá Buông tại chùa Chùa Sà Lôn (xã Lương Phi, Tri Tôn, An Giang). Ảnh: Trọng Chính

Trên địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn của An Giang hiện có khoảng 30/65 ngôi chùa Khmer còn lưu giữ hơn 100 bộ Kinh Phật viết trên lá buông, mỗi bộ gồm 4 -10 cuốn, mỗi cuốn có 20-60 lá kinh.

Theo Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, xuất hiện từ thế kỷ 19, Kinh lá Buông được viết bằng tiếng Khmer cổ hay tiếng Pali theo trường phái Thomanadut và Mahainikai. Đây là loại thư tịch cổ quý hiếm khắc chữ trên lá buông của người dân tộc Khmer (gọi là Satra).

Cũng theo Hòa thượng Chau Sơn Hy thì để có được những tấm lá viết kinh, phải trải qua rất nhiều các công đoạn, với nhiều thao tác kỹ thuật tỷ mỷ, công phu. Ðầu tiên phải kể đến công đoạn lựa chọn lựa những cây buông có lá to, dài để khi đọt lá non vừa nhú ra, phải quấn kín bằng vải giữ tấm lá được trắng, sạch, không bị côn trùng cắn rách, chờ khi tấm lá dài hơn 2m mới thu hoạch mang về chùa.

3G0A0336cp6.jpg
Để viết chữ trên lá buông, phải dùng một loại bút đặc biệt được làm bằng gỗ, vừa tay cầm, một đầu có mũi nhọn bằng kim loại gọi là Đek-cha để “khắc” chữ lên lá buông. Ảnh: Trọng Chính
3G0A0257cp4.jpg
Mỗi bộ kinh có độ dài từ 20-60 lá. Như vậy, việc hoàn thành một bộ kinh thực sự là kỳ công. Ảnh: Trọng Chính
3G0A0375cp3.jpg
Khi công việc khắc chữ hoàn thành sẽ tẩm lên lá buông một hỗn hợp gồm nước, dầu lửa và than. Khi đem phơi khô, những dòng chữ sẽ hiện ra rõ nét và đẹp mắt. Ảnh: Trọng Chính
3G0A0299cp5.jpg
Trong cuộc đời mình, người Khmer đến chùa từ rất sớm, không chỉ để học kinh, học chữ mà trên hết là học cách làm người. Tại các chùa Khmer Nam Bộ, hầu như chùa nào cũng có kinh lá buông để các vị sư sãi, achar, phật tử học hành, nghiên cứu. Ảnh: Trọng Chính

Tiếp theo là công đoạn phân loại và chọn kích cỡ lá cho phù hợp, rồi phơi khô, bào phẳng, ngâm dung dịch bảo quản… Sau tất cả, kỳ công nhất vẫn là công đoạn viết chữ lên lá Kinh lá Buông, đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng, đều đặn giữa hai tay và nét viết phải có cùng một độ sâu. Kinh lá Kinh lá Buông được viết bằng loại bút có ngòi sắt nhọn gọi là Ðék-cha, thân làm bằng gỗ tiện, ngòi bút bằng thép được mài giũa sắc bén.

IMG_6413.jpg
Hòa thượng Chau Sơn Hy, Sư cả chùa Sà Lôn ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn (An Giang) giới thiệu về bộ kinh lá Kinh lá Buông đang được lưu giữ tại chùa. Ảnh: An Hiếu
IMG_6328.jpg
Kinh lá Kinh lá Buông có 4 loại gồm kinh Phật, truyện cổ dân gian, hội hè, trò chơi dân gian, bài giáo huấn dân gian. Trong đó, Kinh Phật chạm khắc trên lá buông là tài liệu quý, ghi lại những lời dạy của Phật để truyền cho hậu thế và chỉ được mở ra thuyết pháp vào những dịp quan trọng như lễ Phật Đản, lễ Kathina (lễ dâng bông, dâng y cà sa), lễ Thvai PresKhe (Cúng trăng), Lễ Dolta (Cúng ông bà)... Ảnh: An Hiếu
IMG_6259.jpg
Hòa thượng Chau Sơn Hy, Sư cả chùa Sà Lôn ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn (An Giang), một trong những nghệ nhân có thể khắc chữ Khmer cổ trên lá Kinh lá Buông. Ảnh: An Hiếu

Hiện nay, hầu hết kinh lá Buông được gìn giữ, bảo quản tại các chùa với phương thức đơn giản như dùng vải quấn quanh bộ kinh và đặt trong tủ kính. Trải qua nhiều thế kỷ, kinh lá buông luôn được người Khmer xem là "báu vật" linh thiêng, chứa đựng triết lý sống, giúp các vị sư sãi, achar, phật tử học hành, nghiên cứu và lưu giữ, bảo tồn cho các thế hệ mai sau.

IMG_5629.jpg
Anh Kim Som Ry Thi truyền dạy kỹ năng khắc chữ Khmer cổ trên lá Buông cho các vị sư sãi Khmer tại chùa Sà Lôn ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn (An Giang). Ảnh: An Hiếu
IMG_5693.jpg
Để hoàn thành một cuốn kinh lá Buông phải trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi sự khéo léo, lòng đam mê đối với công việc này. Ảnh: An Hiếu
HIE_0618.jpg
Khi khắc chữ trên lá Buông phải sử dụng mũi bút bằng sắt và viết xong dùng vải thấm than trộn với dầu thông rồi nhúng qua dầu lửa để quét lên chữ khắc. Ảnh: An Hiếu
IMG_5699.jpg
Cách viết chữ lên lá kinh cũng rất đặc biệt. Tay phải cầm bút còn tay trái giữ lá, nhưng đầu bút phải tựa lên ngón cái của bàn tay kia. Khi viết, ngón tay cái sẽ điều khiển đầu bút. Ảnh: An Hiếu
IMG_5781.jpg
Do tấm lá nhỏ nên mỗi lá chỉ viết được khoảng 5 hàng, mỗi hàng chừng 20-30 chữ. Chính vì thế, người viết phải biết cách thể hiện nội dung như thế nào cho súc tích và gói gọn trong khuôn khổ tấm lá. Ảnh An Hiếu
IMG_5845.jpg
Mặt khác, muốn khắc được thì người học phải am tường nội dung của từng loại kinh cũng là điều rất quan trọng vì hầu hết các bộ kinh lá Buông được chạm khắc bằng chữ Khmer cổ và chữ Pali. Ảnh: An Hiếu
IMG_5806.jpg
Anh Kim Som Ry Thi cùng các sư sãi Khmer trao đổi về những chữ viết trên lá Buông vừa mới hoàn thiện tại chùa Sà Lôn ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn (An Giang). Ảnh: An Hiếu

Với giá trị vô giá trong văn hóa tín ngưỡng Phật giáo Nam tông Khmer, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá Buông của người Khmer” là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2017.

Nhằm bảo tồn và lưu truyền cho thế hệ sau những giá trị đặc sắc Kinh lá Buông, tỉnh An Giang đã phê duyệt Đề án bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Văn hóa Phi Vật thể Quốc gia “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá Buông của người Khmer tỉnh An Giang” đến năm 2030.

Trong giai đoạn 1 (2022-2026), tỉnh sẽ thực hiện công tác kiểm kê, phân loại các bộ kinh lá Buông trên địa bàn tỉnh theo hệ thống. Triển khai bảo quản trị liệu, phục hồi đối với những di sản kinh lá Buông đã bị hư hỏng và hướng dẫn bảo quản cho các chùa đang lưu giữ kinh lá Buông.

Sau đó, tỉnh sẽ thực hiện tư liệu hóa và số hóa di sản “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá Buông của người Khmer tỉnh An Giang.”

Song song đó, tỉnh sẽ tổ chức bảo tồn và phát huy giá trị của di sản đã được nhận diện, xây dựng thêm các dị bản của một số bộ kinh lá Buông phục vụ cho công tác giáo dục di sản, phát triển du lịch. Đồng thời, sẽ dịch thuật một số bộ kinh lá Buông tiêu biểu để làm tư liệu tham khảo, nghiên cứu và giới thiệu tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều hình thức; đưa vào chương trình học ngoại khóa và các cuộc thi ở các trường học về việc tìm hiểu về di sản.

Giai đoạn 2 (2028-2030), tỉnh sẽ thực hiện xây dựng hồ sơ đăng ký công nhận di sản tư liệu tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer ở tỉnh An Giang thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO./.

Trọng Chính - Thu Hương- An Hiếu

(Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Bản Mông hân hoan đón Tết Độc lập

Bản Mông hân hoan đón Tết Độc lập

Trong những ngày cả nước náo nức kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9, khu hạ sơn của đồng bào Mông ở xóm Đà Vĩ, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, ngập tràn sắc đỏ cờ Đảng, cờ Tổ quốc, nhân dân náo nức đón Tết Độc lập. Đồng bào coi đây là ngày hội lớn, thiêng liêng, gắn liền với niềm tin và niềm tự hào dân tộc.

Nhịp sống dần ổn định của dân bản vùng tâm lũ

Nhịp sống dần ổn định của dân bản vùng tâm lũ

Trận lũ với mực nước dâng vượt đỉnh lịch sử xảy ra vào cuối tháng 7/2025 đã gây thiệt hại nặng nề đối với nhiều xã miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, trong đó có xã biên giới Nhôn Mai - một trong những địa bàn bị cô lập lâu nhất do tuyến Quốc lộ 16 huyết mạch bị sạt lở, sụt trượt gây chia cắt nghiêm trọng. Lũ dữ đi qua, công tác khắc phục hậu quả nhằm sớm ổn định đời sống cho người dân đang được chính quyền địa phương, bộ đội biên phòng và các lực lượng chức năng thực hiện.

Khơi dậy sức sống mới cho nghệ thuật múa Chằn

Khơi dậy sức sống mới cho nghệ thuật múa Chằn

Tây Ninh là địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, với đời sống văn hóa phong phú, đậm bản sắc dân tộc. Bên cạnh âm hưởng nhạc ngũ âm, điệu múa trống Chhay-dăm được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia (năm 2014) và các công trình sinh hoạt cộng đồng, đồng bào Khmer nơi đây vẫn gìn giữ, phát huy điệu múa Chằn - loại hình nghệ thuật múa mặt nạ độc đáo, in đậm dấu ấn văn hóa Khmer.

Kinh hoàng đêm chạy lũ ở bản Yên Hòa

Kinh hoàng đêm chạy lũ ở bản Yên Hòa

Bản Yên Hòa (xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An) có 93 hộ dân đồng bào Thái, nằm bên thượng nguồn Nậm Nơn, giáp biên giới Việt - Lào. Trận lũ dữ xảy ra vào cuối tháng 7 vừa qua đã cuốn trôi mất cầu treo trên con đường độc đạo ra trung tâm xã khiến bản làng đến nay vẫn bị cô lập.

Bánh tét Trà Cuôn - đặc sản 'vượt lũy tre làng'

Bánh tét Trà Cuôn - đặc sản 'vượt lũy tre làng'

Tại Vĩnh Long, làng nghề bánh tét Trà Cuôn (xã Vinh Kim) ngày càng thu hút nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh, khẳng định uy tín nhờ các cơ sở sản xuất không ngừng cải tiến chất lượng, mẫu mã. Từ một món ăn truyền thống gắn liền với đời sống văn hóa ẩm thực của người dân Nam Bộ, nghề làm bánh tét nơi đây đã tạo sinh kế ổn định cho hàng trăm gia đình, góp phần phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

'Cõng' dịch vụ công vượt đại ngàn

'Cõng' dịch vụ công vượt đại ngàn

Mô hình chính quyền 2 cấp đang được tỉnh Quảng Trị triển khai hiệu quả, mang lại chuyển biến rõ rệt trong cải cách hành chính, nhất là tại các xã đặc thù như Phong Nha và Thượng Trạch. Giữa đại ngàn Trường Sơn, từng dòng giấy tờ hộ tịch, căn cước công dân giờ đây đang được “vào từng bản, gõ cửa từng nhà” - một biểu hiện sinh động cho nền hành chính phục vụ.

Gìn giữ nghề đóng ghe, xuồng bên dòng Vàm Cỏ Đông

Gìn giữ nghề đóng ghe, xuồng bên dòng Vàm Cỏ Đông

Bên dòng sông Vàm Cỏ Đông lặng lẽ chảy qua vùng đất Cần Giuộc xưa - nay thuộc xã Tân Tập (tỉnh Tây Ninh), tiếng đục, tiếng khoan, tiếng cưa vẫn vang lên đều đặn trong cơ sở đóng tàu của ông Huỳnh Văn Hiệu. Những chiếc ghe mũi đỏ của làng nghề đã từng nổi danh khắp Nam kỳ lục tỉnh ngày nay vẫn còn tồn tại nhờ những người thợ lành nghề.

Đưa ong về lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

Đưa ong về lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

Vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Ninh Bình) được bao bọc bởi hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú, mỗi mùa hoa sú vẹt nở, các chủ ong đưa đàn hàng nghìn con về lấy mật. Bên cạnh việc hỗ trợ người dân chọn vị trí đặt thùng ong để lấy mật hiệu quả, Vườn quốc gia Xuân Thủy còn hỗ trợ về công nghệ chế biến, tăng cường quảng bá thương hiệu giúp người nuôi ong mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia

Đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia

Thời gian qua, Ủy ban Dân tộc, nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã đẩy mạnh thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc, nhất là Kết luận 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Đảm bảo an toàn cho người dân tại các vùng có nguy cơ sạt lở cao

Đảm bảo an toàn cho người dân tại các vùng có nguy cơ sạt lở cao

Ngay sau khi xảy ra vụ sạt lở đất thương tâm khiến 2 người chết, 3 người bị thương tại thôn Khe Qué (xã Xuân Ái, tỉnh Lào Cai) vào ngày 13/7, chính quyền địa phương đã tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ các gia đình nạn nhân lo hậu sự; đồng thời triển khai các biện pháp di dời người dân ra khỏi khu vực sạt lở.

Hồi sinh tơ lụa B'Lao

Hồi sinh tơ lụa B'Lao

Từng rực rỡ một thời với danh xưng "thủ phủ tơ lụa Việt Nam", ngành dệt tơ tằm Bảo Lộc (Lâm Đồng) còn được gắn bó với thương hiệu “Tơ lụa B’Lao” đã trải qua những năm tháng đầy trắc trở vì thị trường bấp bênh, nhân lực thiếu hụt và guồng quay công nghiệp giá rẻ. Nhưng hôm nay, giữa những đồi dâu xanh non và tiếng tằm gặm lá, một cuộc hồi sinh đang bắt đầu được dệt lại, bằng chính quyết tâm của những người giữ nghề.

Bản Phiêng Nghè (Sơn La) lại khốn đốn vì ngập úng

Bản Phiêng Nghè (Sơn La) lại khốn đốn vì ngập úng

Những trận mưa kéo dài nhiều ngày qua đã khiến tình trạng ngập úng ở bản Phiêng Nghè, phường Chiềng An, tỉnh Sơn La tiếp tục tái diễn, có nơi ngập sâu từ 2 - 3m, ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt, đi lại của một số hộ dân.

Chạm giấc mơ khởi nghiệp từ những chùm nho Hạ Đen

Chạm giấc mơ khởi nghiệp từ những chùm nho Hạ Đen

Với khát khao làm nông nghiệp sạch và mong muốn thay đổi cách làm kinh tế nông thôn, chị Nguyễn Thị Hồng Hạnh (xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) đã tiên phong lựa chọn giống nho Hạ Đen để khởi nghiệp. Sau ba năm kiên trì học hỏi và áp dụng kỹ thuật hiện đại, chị đã biến mảnh đất quê hương thành vườn nho trĩu quả, mang lại hiệu quả kinh tế cao với thu nhập gần 100 triệu đồng mỗi năm, giúp gia đình ổn định kinh tế và vươn lên làm giàu.

Đòn bẩy phát triển nông thôn mới

Đòn bẩy phát triển nông thôn mới

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) nhằm hướng đến phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Fraser's Hill International Birdrace 2025: Giải thưởng quốc tế cho Việt Nam giữa “thiên đường hoang dã”

Fraser's Hill International Birdrace 2025: Giải thưởng quốc tế cho Việt Nam giữa “thiên đường hoang dã”

Từ TP.HCM, 10 thành viên Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Thiên nhiên Hoang dã Việt Nam đã lên đường sang Malaysia, tham dự Cuộc thi nổi tiếng Fraser's Hill International Birdrace 2025. Đây là sân chơi lớn nhất Đông Nam Á dành cho những người yêu chim hoang dã và bảo tồn thiên nhiên. Đoàn Việt Nam do nhiếp ảnh gia Nguyễn Hoài Bảo, Giảng viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia TP.HCM làm trưởng đoàn đã xuất sắc giành Giải Nhì chung cuộc (First Runner-up) hạng mục Advanced - hạng mục cao nhất dành cho các đội chuyên nghiệp.

Bình yên trở lại nơi phên dậu Tổ quốc

Bình yên trở lại nơi phên dậu Tổ quốc

Gia Lai là tỉnh miền núi ở Tây Nguyên, đường biên giới dài hơn 90 km giáp Campuchia, từng là điểm nóng về tình trạng buôn bán người qua biên giới. Những lời mời gọi “việc nhẹ lương cao” từ các đối tượng xấu đã khiến không ít thanh niên khu vực biên giới nhẹ dạ cả tin rơi vào bẫy lừa đảo, bị đưa sang Campuchia và ép buộc lao động phi pháp.

Báo chí, đồng hành cùng đồng bào dân tộc thiểu số

Báo chí, đồng hành cùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trong những năm qua, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những chuyển biến quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm. Những thành tựu đó có đóng góp to lớn của các cơ quan báo chí, trong đó có báo Tin tức và Dân tộc, TTXVN trong việc tuyên truyền, cổ vũ, phổ biến kiến thức tới đồng bào.

Nét duyên vùng Tây Bắc

Nét duyên vùng Tây Bắc

Mai Châu là điểm đến hấp dẫn du khách bằng vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng, không khí mát mẻ và mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc. Với chủ trương phát triển du lịch cộng đồng bền vững, các địa phương như Pà Cò, bản Lác đã trở thành điểm sáng, bảo tồn di sản văn hóa, tạo sinh kế cho người dân.

Phục hưng trà Lâm Đồng

Phục hưng trà Lâm Đồng

Không chỉ là một sản phẩm nông nghiệp, trà Lâm Đồng từng là biểu tượng của vùng đất nam Tây Nguyên - nơi hội tụ tinh hoa khí hậu, đất đai, bàn tay và khối óc con người. Nhưng giữa vòng xoáy thị trường và những biến động của chuỗi cung ứng, vùng chè một thời vang danh đang đối mặt với sự thu hẹp vùng nguyên liệu, thiếu hụt nội lực và áp lực tái định vị. Từ thực trạng này, một hành trình tái sinh đã khởi động - bằng sự khát vọng giữ lại bản sắc từ những đồi chè xanh ngát và bản lĩnh của những doanh nghiệp Việt.

Lúa tẻ nương Hà Giang - Mùa vàng bội thu

Lúa tẻ nương Hà Giang - Mùa vàng bội thu

Được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay Bộ Nông nghiệp và Môi trường) công nhận lưu hành đặc cách từ gần ba năm trước, lúa tẻ nương Hà Giang nhanh chóng lan rộng trên thị trường nhờ những ưu thế vượt trội. Năm nay, lúa tẻ nương Hà Giang lại được mùa, được giá. Với chi phí sản xuất thấp nhưng hiệu quả vượt trội, lúa tẻ nương mang lại cho người nông dân năng suất cao và thu nhập ổn định.

Nông dân thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mùa chuối 'ngọt'

Nông dân thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mùa chuối 'ngọt'

Chuối xiêm là cây trồng chủ lực tại khu vực vùng đệm Vườn quốc gia U Minh Thượng hơn 20 năm qua. Nơi đây được mệnh danh là vương quốc chuối của tỉnh Kiên Giang. Từ đầu năm 2025 đến nay, giá chuối xiêm ở huyện U Minh Thượng duy trì ở mức cao mang lại niềm vui và nguồn thu nhập khá cho người dân.

Bản đồ nguồn nước Điện Biên - vũ khí chống 'giặc' lửa

Bản đồ nguồn nước Điện Biên - vũ khí chống 'giặc' lửa

Với sáng kiến xây dựng “Bản đồ nguồn nước Điện Biên”, Thượng úy Nguyễn Doãn Đạt (Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ - Công an tỉnh Điện Biên) đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác chữa cháy, đồng thời khơi dậy tinh thần sáng tạo, đổi mới trong ứng dụng công nghệ số của lực lượng Công an nhân dân.

Ứng dụng công nghệ đưa sản phẩm làng nghề vươn xa

Ứng dụng công nghệ đưa sản phẩm làng nghề vươn xa

Với sự phát triển của khoa học công nghệ, thời gian qua, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất, quảng bá thương hiệu. Từ đó, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, từng bước đưa các sản phẩm làng nghề vươn dài ra thị trường thế giới.

Yên Bái hình thành nhiều vùng nguyên liệu tập trung của 10 cây trồng chủ lực

Yên Bái hình thành nhiều vùng nguyên liệu tập trung của 10 cây trồng chủ lực

Yên Bái đang trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nhờ thực thi đồng bộ các giải pháp phát triển bền vững dựa trên cơ sở tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế. Điều đó đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, hiệu quả cùng sự đồng hành tích cực của chính quyền các cấp đối với các nhà đầu tư.

Độc đáo những ngôi nhà đá ong

Độc đáo những ngôi nhà đá ong

Ẩn mình trong những làng quê yên bình của Quảng Ngãi, có những ngôi nhà được xây dựng từ đá ong độc đáo tại xã Bình Hải, huyện Bình Sơn. Trải qua bao thăng trầm, những nếp nhà này không chỉ mang đậm dấu ấn kiến trúc xưa mà còn chứa đựng cả những câu chuyện về đời sống, văn hóa của người dân nơi đây. Tuy nhiên, trước sự thay đổi của nhịp sống hiện đại, số lượng những ngôi nhà đá ong nguyên vẹn ngày càng ít.

Điểm tựa tin cậy của đồng bào các dân tộc ở vùng biên Đắk Lắk

Điểm tựa tin cậy của đồng bào các dân tộc ở vùng biên Đắk Lắk

Năm 2025 đánh dấu chặng đường 50 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk (23/5/1975 - 23/5/2025). Trải qua nửa thế kỷ, Bộ đội Biên phòng không chỉ khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia mà còn là điểm tựa tin cậy của nhân dân các dân tộc anh em ở vùng biên Đắk Lắk.