Để tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn

Trong bối cảnh thời đại công nghệ số, giới trẻ ít mặn mà với các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, tại Quảng Ngãi, một số trường học đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong việc đưa văn hóa cồng chiêng, múa xoang vào trường học, giúp tất cả học sinh không chỉ các em đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn về những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.

cong-chieng-280326.jpg
Nghệ nhân ưu tú A Thu đến dạy cồng chiêng cho các em học sinh tại Trường Trung học cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào, tỉnh Quảng Ngãi.

Khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống

Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào là một trường ở vùng khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, với gần 500 học sinh đang theo học, trong đó có trên 97% là học sinh dân tộc thiểu số, chủ yếu là Xơ Đăng. Từ 5 năm nay, nhà trường đã xây dựng lớp dạy cồng chiêng theo hình thức ngoại khóa, với sự giảng dạy trực tiếp từ Nghệ nhân ưu tú A Thu - Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian duy nhất của xã Kon Đào.

Nghệ nhân Ưu tú A Thu cho biết, khi được Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm mời về giảng dạy cồng chiêng cho học sinh, ông cảm thấy rất vui. Đây không chỉ là cơ hội để ông trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho thế hệ trẻ, còn khẳng định sự quan tâm của ngành giáo dục đối với việc truyền dạy văn hóa cho các em khi vẫn còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Hiện, Nghệ nhân Ưu tú A Thu đang giảng dạy trực tiếp cho học sinh khối 6, 7 và 8 của trường, với gần 40 em theo học.

“Các em rất đam mê với cồng chiêng và học rất nhanh. Khi văn hóa truyền thống đang dần bị mai một, việc Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm mở lớp học cồng chiêng như thế này truyền dạy cho các em, để các em biết về văn hóa cồng chiêng của người Xơ Đăng là rất thiết thực. Tôi hy vọng sẽ còn nhiều trường mở lớp như thế này nữa để văn hóa truyền thống được lan tỏa đến các em học sinh”, Nghệ nhân Ưu tú A Thu giãi bày.

cong-chieng2-280326.jpg
Nghệ nhân ưu tú A Thu đến dạy cồng chiêng cho các em học sinh tại Trường Trung học cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào, tỉnh Quảng Ngãi.

Em A Phong, lớp 8A4, Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm chia sẻ, khi được tham gia lớp học em thấy rất vui. Nghệ nhân ưu tú A Thu đã giảng dạy tận tình, giúp em và các bạn hiểu rõ về cồng chiêng và nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng. Đến nay, em đã có thể trình diễn được các bài chiêng đơn giản như Giã gạo, Mừng lúa mới và tham gia vào các lễ hội của trường, của thôn và của xã.

Cô Nguyễn Thị Hợp, Phó hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào cho biết, việc đưa cồng chiêng vào dạy ngoại khóa trong trường học là một mô hình giáo dục di sản văn hóa thiết thực, giúp cho học sinh tiếp cận với các nét văn hóa truyền thống một cách trực quan, sinh động. Nhờ vào sự giảng dạy của Nghệ nhân Ưu tú A Thu, các em được khơi dậy niềm đam mê bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Theo cô Nguyễn Thị Hợp, trong cuộc sống hiện đại, xu hướng âm nhạc có thể thay đổi theo thời gian, nhưng với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi nói riêng, ở khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên nói chung, âm hưởng từ văn hóa cồng chiêng không thể thay đổi. Đó là lý do để nhà trường đưa cồng chiêng trở thành một môn học ngoại khóa. Đặc biệt, khi nhà trường nêu ý tưởng và trao đổi với các trưởng thôn, tất cả đều đồng ý và hỗ trợ các bộ cồng chiêng để tập luyện cho các em; các phụ huynh cũng rất đồng tình, ủng hộ. Nhờ đó, từ năm 2021 đến nay, hàng chục học sinh của nhà trường đã có thể tham gia vào các đội cồng chiêng của tỉnh, của huyện Đăk Tô (cũ) để đi trình diễn tại nhiều nơi trong và ngoài tỉnh.

“Việc đưa cồng chiêng vào giảng dạy mang nhiều giá trị to lớn, vừa phát huy được giá trị của di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, vừa khơi dậy niềm đam mê của học sinh với văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, còn giúp các em giảm nguy cơ chịu ảnh hưởng xấu, độc từ các thiết bị điện tử trong thời đại công nghệ như hiện nay. Điều này cũng góp phần giúp cho cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ có một thế hệ trẻ đầy tài năng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống”, cô Nguyễn Thị Hợp nói.

Kể cho thế hệ mai sau về hành trình của di sản văn hóa phi vật thể

cong-chieng3-280326.jpg
Đội cồng chiêng Trường TH và THCS xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi hiện có hơn 60 em nữ, 14 em nam có thể biểu diễn cồng chiêng, múa xoang.

Từ năm 2020, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng đội cồng chiêng, múa xoang trong chính học sinh của trường. Với tỷ lệ hơn 60% là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là J’Rai và Hà Lăng (một nhánh của dân tộc Xơ Đăng), giai đoạn đầu, nhà trường đã mời các nghệ nhân trong các làng đến truyền dạy cho các em. Sau khi có được đội nghệ nhân, các thế hệ học sinh trong trường sẽ tự truyền dạy cho nhau. Đến nay, đội cồng chiêng - xoang của trường đã có hơn 70 học sinh; trong đó đội cồng chiêng có 20 em, đội múa xoang hơn 50 em.

Thầy Võ Hoàng Sơn, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình cho biết, thời gian đầu thành lập, đội cồng chiêng – xoang của trường cũng gặp nhiều khó khăn. Đa số các em là đồng bào dân tộc thiểu số nên rụt rè, nhút nhát, không dám thể hiện khả năng. Bên cạnh đó, việc các em chưa thực sự mặn mà với văn hóa truyền thống cũng khiến việc phát triển đội gặp nhiều trở ngại.

Tuy nhiên, với sự quyết tâm của thầy và trò nhà trường, sự hỗ trợ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đặc biệt là sự đồng lòng, ủng hộ của các già làng, trưởng thôn, người có uy tín và phụ huynh, đội cồng chiêng – xoang đã dần hình thành, ổn định và phát triển cả về số lượng, chất lượng. Đến nay, đội không chỉ trình diễn, giao lưu với học sinh trong trường, còn tham gia các hoạt động trải nghiệm ở các trường học khác tại các xã lân cận.

cong-chieng4-280326.jpg
Đội cồng chiêng Trường TH và THCS xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi hiện có hơn 60 em nữ, 14 em nam có thể biểu diễn cồng chiêng, múa xoang.

Đơn cử, sáng 28/3, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn (xã Sa Thầy) tổ chức hoạt động trải nghiệm khối 5 với chủ đề “Giới thiệu nhạc cụ truyền thống một số dân tộc thiểu số: Bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng”. Để triển khai hoạt động này, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn đã mời đội cồng chiêng - xoang của Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình đến trình diễn, giao lưu và chia sẻ về văn hóa cồng chiêng cho học sinh khối lớp 5 của trường.

Cô Vũ Thị An, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn chia sẻ, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhà trường rất quan tâm đến hoạt động trải nghiệm cho học sinh. Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng - múa xoang giúp cho các em biết một số nhạc truyền thống của một số dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi; biết mô tả, chia sẻ về hình dáng, cách chơi và âm sắc của một số nhạc cụ truyền thống. Cùng với đó, các em có hiểu biết ban đầu về không gian văn hóa cồng chiêng; biết tham gia vào một số hoạt động múa xoang; biết cách mô tả, chia sẻ cảm nhận và đúc rút bài học sau quá trình trải nghiệm thực tế.

cong-chieng-28326-28.jpg
Các em học sinh Trường TH và THCS Lê Quý Đôn (xã Sa Thầy) giao lưu cồng chiêng với các em học sinh Trường TH và THCS xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi.

“Việc tổ chức không chỉ xây dựng không gian học tập vui vẻ, nghiêm túc, tăng cường sự kết nối giữa học sinh, giáo viên và cộng đồng, còn giúp học sinh yêu mến và tự hào về mảnh đất và con người Quảng Ngãi; có ý thức gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”, cô Vũ Thị An nói.

Em Vũ Đình Kiên, học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn cho biết, em rất vui khi được các anh chị của đội cồng chiêng – xoang giới thiệu về nhạc cụ truyền thống của vùng đất Tây Nguyên. Bên cạnh đó, được tham gia trải nghiệm trực tiếp đánh cồng chiêng và múa xoang, giúp em và các bạn cảm thấy vui và bổ ích sau những giờ học tập căng thẳng.

cong-chieng-28326-30.jpg
Các em học sinh Trường TH và THCS Lê Quý Đôn (xã Sa Thầy) giao lưu cồng chiêng với các em học sinh Trường TH và THCS xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi.

Có thể khẳng định, việc đưa văn hóa cồng chiêng vào trường học tại các trường ở vùng núi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi đã và đang mang lại nhiều giá trị to lớn, không chỉ tạo ra sân chơi ngoại khóa bổ ích cho học sinh, còn góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, giúp cho tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn; để điệu múa xoang mãi được nhịp nhàng bên ánh lửa, cùng kể cho thế hệ mai sau về hành trình của di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại./.

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Thủ phủ đào phai xứ Thanh thay áo mới

Thủ phủ đào phai xứ Thanh thay áo mới

Tết Nguyên Đán 2026 cận kề cũng là lúc không khí tại thủ phủ đào phai xứ Thanh trở nên hối hả, nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Đây là thời điểm người trồng đào tập trung chăm sóc, chuẩn bị công đoạn tuốt lá, nuôi mắt để đào ra nụ, nở hoa đúng dịp Xuân về.

Ổn định sinh kế trên nương đá vùng cực Bắc

Ổn định sinh kế trên nương đá vùng cực Bắc

Vào độ tháng 12, cái lạnh vùng cao bắt đầu bao trùm những dãy núi đá tai mèo ở Lũng Cú (Tuyên Quang). Trên sườn núi cheo leo, bà con các thôn, bản phấn khởi bước vào vụ thu hoạch gừng và khoai sâm. Tiếng cuốc đất, tiếng cười nói rộn ràng giữa gió rét, những củ gừng vàng ruộm, khoai sâm căng tròn lần lượt hiện ra từ khe đá, mang theo niềm vui vụ mùa và hy vọng đổi thay sinh kế cho người dân vùng cực Bắc.

Dệt văn hóa Thái trên những khung cửi Pù Luông

Dệt văn hóa Thái trên những khung cửi Pù Luông

Nằm trong vùng lõi của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài (xã Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa) đang trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế bởi những câu chuyện văn hóa qua từng khung cửi. Ở đó, bên nếp nhà sàn, những người phụ nữ dân tộc Thái mỗi ngày cần mẫn đưa thoi, dệt nên những nét hoa văn đặc trưng của núi rừng Pù Luông.

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Tiếp tục khơi dòng chảy văn hóa bản địa đặc sắc của người Ê Đê

Người Ê Đê sinh sống tại huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên cũ) nay thuộc các xã: Sông Hinh, Đức Bình, Ea Ly, Ea Bá (tỉnh Đắk Lắk) hiện còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống bản địa đặc sắc, độc đáo. Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, chính quyền địa phương đã nỗ lực phát huy những giá trị đó trở thành điểm nhấn trong dòng chảy văn hóa địa phương, tạo thêm nhiều việc làm mới tăng thu nhập cho người Ê Đê thông qua các đề án phát triển du lịch cộng đồng.

Khám phá 'chợ ma' Tha La

Khám phá 'chợ ma' Tha La

Chỉ nhóm họp từ 3 giờ sáng và nhanh chóng "biến mất" một cách lạ thường sau gần 3 giờ đồng hồ trong mùa nước nổi, chợ cá đồng Tha La (ấp Cây Châm, phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang) đã trở thành nét độc đáo, riêng có của vùng.

Vững vàng thế trận lòng dân nơi cực Tây Tổ quốc

Vững vàng thế trận lòng dân nơi cực Tây Tổ quốc

Giữa vùng đất biên cương nơi cực Tây của Tổ quốc, dù còn nhiều gian khó, nhưng ngày cũng như đêm, những người lính vẫn chắc tay súng, kiên cường bám trụ nơi tuyến đầu, bảo vệ từng cột mốc, từng tấc đất thiêng liêng của non sông. Không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, các chiến sĩ Ban Chỉ huy Phòng thủ khu vực 1 - Mường Nhé còn đồng hành, sẻ chia cùng đồng bào, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, gieo niềm tin và khát vọng bình yên nơi phên dậu Tổ quốc.

Gìn giữ nguồn gen, phát triển thương hiệu Gà Lạc Thủy

Gìn giữ nguồn gen, phát triển thương hiệu Gà Lạc Thủy

Từ mô hình nuôi gà liên kết theo chuỗi khép kín ban đầu, anh Trịnh Văn Tuấn không chỉ gây dựng nên thương hiệu “Gà Lạc Thủy” nổi tiếng, mà còn trở thành điển hình tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2020-2025, được tỉnh Phú Thọ lựa chọn biểu dương, tôn vinh.

Gian nan con đường tái thiết sau mưa lũ lịch sử

Gian nan con đường tái thiết sau mưa lũ lịch sử

Sau 4 ngày bị chìm sâu trong nước lũ, tại các xã bị ngập trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn như: Hữu Lũng, Vân Nham, Yên Bình..., nước đã rút. Về các xã này ngay sau khi nước lũ rút đi, một khung cảnh tan hoang đến xót xa. Những làng quê yên bình, đẹp như tranh ngày nào, giờ đây khắp nơi đầy bùn đất. Những giọt nước mắt của bà con vùng lũ khi trở về nhà nhìn thấy tài sản của gia đình bị ngâm nước, hư hỏng khiến chúng tôi không kìm được lòng mình...

Những con đường hồi sinh sau bão lũ

Những con đường hồi sinh sau bão lũ

Sau hoàn lưu bão số 10, số 11, Tuyên Quang như vừa đi qua một cơn bão dữ hiếm thấy. Từ vùng thấp đến vùng cao, đất đá ngổn ngang, cầu cống bị cuốn trôi, nhiều tuyến đường bị chia cắt, giao thông tê liệt. Khi nước vừa rút, tiếng máy xúc, máy ủi lại vang lên khắp nơi - khởi đầu cho “chiến dịch thông đường” thần tốc, mở lối cho hàng cứu trợ và cuộc sống người dân trở lại.

Tiếp cận bản Na Ngân sau 5 ngày bị cô lập giữa đại ngàn Pù Huống

Tiếp cận bản Na Ngân sau 5 ngày bị cô lập giữa đại ngàn Pù Huống

Từ ngày 29/9, ảnh hưởng của mưa cường suất lớn, kéo dài khiến địa bàn xã Nga My (tỉnh Nghệ An) xảy ra lũ ống, lũ quét trên diện rộng, gây chia cắt, cô lập nhiều bản làng. Hơn 1 tuần trôi qua, bản Na Ngân nằm giữa đại ngàn Pù Huống, cách trung tâm xã Nga My 24 km vẫn còn bị cô lập do đường đất độc đạo vào bản bị sạt lở núi; sụt trượt vách ta-luy âm, ta-luy dương nghiêm trọng với hàng chục điểm và nhiều cầu tạm bắc qua suối bị lũ cuốn trôi.

Nghề khai thác hến ở vùng hồ An Khê - Ka Nak

Nghề khai thác hến ở vùng hồ An Khê - Ka Nak

Chỉ mới hình thành vài năm gần đây nhưng nghề khai thác hến trên lòng hồ thủy điện An Khê - Ka Nak (tỉnh Gia Lai) đã nhanh chóng trở thành sinh kế ổn định, giúp nhiều hộ dân cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Săn mây trên đỉnh Đồng Cao

Săn mây trên đỉnh Đồng Cao

Thời điểm tháng 9 - 10 hằng năm, cao nguyên Đồng Cao (xã Vân Sơn, tỉnh Bắc Ninh) thu hút hàng trăm du khách mỗi ngày trải nghiệm săn mây, cắm trại, tận hưởng không khí trong lành trong khung cảnh đồi núi hùng vĩ hoang sơ hiếm có.

Khẩn cấp bảo tồn voi Việt Nam trước nguy cơ tuyệt chủng

Khẩn cấp bảo tồn voi Việt Nam trước nguy cơ tuyệt chủng

Voi hoang dã được xem là biểu tượng của sự hùng vĩ trong thiên nhiên, gắn bó với văn hóa, tín ngưỡng của nhiều cộng đồng người ở Việt Nam. Tuy nhiên, loài vật này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng khi số lượng cá thể ngoài tự nhiên giảm sút nghiêm trọng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo tồn với sự chung tay của cơ quan chức năng, cộng đồng và những hiến kế của các chuyên gia quốc tế.

Điểm hẹn du lịch cộng đồng mới vùng Mường Thàng

Điểm hẹn du lịch cộng đồng mới vùng Mường Thàng

Trong không gian núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, xóm Mừng với cảnh quan thiên nhiên tươi mát, trong lành cùng những mùa hoa rực rỡ và bản sắc văn hóa Mường đặc sắc đang vươn mình trở thành điểm sáng về du lịch cộng đồng, là điểm đến của du khách trong và ngoài nước.

Đưa hương chè Shan Tuyết bay xa

Đưa hương chè Shan Tuyết bay xa

Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, thôn Xà Phìn (xã biên giới Thanh Thủy, Tuyên Quang) có hơn 100 ha chè Shan Tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi, được đồng bào Dao gìn giữ như báu vật. Phát huy sản vật quý cùng quy trình chế biến truyền thống, Hợp tác xã Trà Pèng đã mở ra hành trình gìn giữ, phát huy giá trị di sản thiên nhiên - văn hóa, đưa hương chè Shan Tuyết bay xa khỏi vùng biên cương.

Nữ giáo viên tiếng Anh miệt mài gìn giữ văn hóa Chơ Ro

Nữ giáo viên tiếng Anh miệt mài gìn giữ văn hóa Chơ Ro

Là giáo viên tiếng Anh, nhiều năm qua chị Nguyễn Hồng Nữ (36 tuổi, dân tộc Chơ Ro, ngụ xã Xuân Thành, tỉnh Đồng Nai) gắn bó với việc giảng dạy cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Không chỉ tận tâm với chuyên môn, chị còn là một người uy tín trong cộng đồng, miệt mài gìn giữ và truyền dạy cho thế hệ trẻ những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Chơ Ro, góp phần làm sống dậy bản sắc và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

'Thủ phủ' ngư cụ miền Tây nhộn nhịp vào mùa nước nổi

'Thủ phủ' ngư cụ miền Tây nhộn nhịp vào mùa nước nổi

Nằm cạnh Quốc lộ 91, làng nghề đan lưới Thơm Rơm thuộc phường Thới Long, thành phố Cần Thơ đang nhộn nhịp vào mùa sản xuất ngư cụ phục vụ cho khai thác đánh bắt thủy sản mùa nước nổi ở miền Tây. Theo chính quyền địa phương, làng nghề không chỉ nổi tiếng với những sản phẩm ngư cụ như lưới, lú, chài,… chất lượng cao mà còn là nơi tạo công ăn việc làm cho lao động nhàn rỗi, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương.

Bản Mông hân hoan đón Tết Độc lập

Bản Mông hân hoan đón Tết Độc lập

Trong những ngày cả nước náo nức kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9, khu hạ sơn của đồng bào Mông ở xóm Đà Vĩ, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, ngập tràn sắc đỏ cờ Đảng, cờ Tổ quốc, nhân dân náo nức đón Tết Độc lập. Đồng bào coi đây là ngày hội lớn, thiêng liêng, gắn liền với niềm tin và niềm tự hào dân tộc.

Nhịp sống dần ổn định của dân bản vùng tâm lũ

Nhịp sống dần ổn định của dân bản vùng tâm lũ

Trận lũ với mực nước dâng vượt đỉnh lịch sử xảy ra vào cuối tháng 7/2025 đã gây thiệt hại nặng nề đối với nhiều xã miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, trong đó có xã biên giới Nhôn Mai - một trong những địa bàn bị cô lập lâu nhất do tuyến Quốc lộ 16 huyết mạch bị sạt lở, sụt trượt gây chia cắt nghiêm trọng. Lũ dữ đi qua, công tác khắc phục hậu quả nhằm sớm ổn định đời sống cho người dân đang được chính quyền địa phương, bộ đội biên phòng và các lực lượng chức năng thực hiện.

Khơi dậy sức sống mới cho nghệ thuật múa Chằn

Khơi dậy sức sống mới cho nghệ thuật múa Chằn

Tây Ninh là địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống, với đời sống văn hóa phong phú, đậm bản sắc dân tộc. Bên cạnh âm hưởng nhạc ngũ âm, điệu múa trống Chhay-dăm được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia (năm 2014) và các công trình sinh hoạt cộng đồng, đồng bào Khmer nơi đây vẫn gìn giữ, phát huy điệu múa Chằn - loại hình nghệ thuật múa mặt nạ độc đáo, in đậm dấu ấn văn hóa Khmer.

Kinh hoàng đêm chạy lũ ở bản Yên Hòa

Kinh hoàng đêm chạy lũ ở bản Yên Hòa

Bản Yên Hòa (xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An) có 93 hộ dân đồng bào Thái, nằm bên thượng nguồn Nậm Nơn, giáp biên giới Việt - Lào. Trận lũ dữ xảy ra vào cuối tháng 7 vừa qua đã cuốn trôi mất cầu treo trên con đường độc đạo ra trung tâm xã khiến bản làng đến nay vẫn bị cô lập.

Bánh tét Trà Cuôn - đặc sản 'vượt lũy tre làng'

Bánh tét Trà Cuôn - đặc sản 'vượt lũy tre làng'

Tại Vĩnh Long, làng nghề bánh tét Trà Cuôn (xã Vinh Kim) ngày càng thu hút nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh, khẳng định uy tín nhờ các cơ sở sản xuất không ngừng cải tiến chất lượng, mẫu mã. Từ một món ăn truyền thống gắn liền với đời sống văn hóa ẩm thực của người dân Nam Bộ, nghề làm bánh tét nơi đây đã tạo sinh kế ổn định cho hàng trăm gia đình, góp phần phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

'Cõng' dịch vụ công vượt đại ngàn

'Cõng' dịch vụ công vượt đại ngàn

Mô hình chính quyền 2 cấp đang được tỉnh Quảng Trị triển khai hiệu quả, mang lại chuyển biến rõ rệt trong cải cách hành chính, nhất là tại các xã đặc thù như Phong Nha và Thượng Trạch. Giữa đại ngàn Trường Sơn, từng dòng giấy tờ hộ tịch, căn cước công dân giờ đây đang được “vào từng bản, gõ cửa từng nhà” - một biểu hiện sinh động cho nền hành chính phục vụ.

Gìn giữ nghề đóng ghe, xuồng bên dòng Vàm Cỏ Đông

Gìn giữ nghề đóng ghe, xuồng bên dòng Vàm Cỏ Đông

Bên dòng sông Vàm Cỏ Đông lặng lẽ chảy qua vùng đất Cần Giuộc xưa - nay thuộc xã Tân Tập (tỉnh Tây Ninh), tiếng đục, tiếng khoan, tiếng cưa vẫn vang lên đều đặn trong cơ sở đóng tàu của ông Huỳnh Văn Hiệu. Những chiếc ghe mũi đỏ của làng nghề đã từng nổi danh khắp Nam kỳ lục tỉnh ngày nay vẫn còn tồn tại nhờ những người thợ lành nghề.

Đưa ong về lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

Đưa ong về lấy mật ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

Vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Ninh Bình) được bao bọc bởi hệ sinh thái rừng ngập mặn phong phú, mỗi mùa hoa sú vẹt nở, các chủ ong đưa đàn hàng nghìn con về lấy mật. Bên cạnh việc hỗ trợ người dân chọn vị trí đặt thùng ong để lấy mật hiệu quả, Vườn quốc gia Xuân Thủy còn hỗ trợ về công nghệ chế biến, tăng cường quảng bá thương hiệu giúp người nuôi ong mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia

Đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia

Thời gian qua, Ủy ban Dân tộc, nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã đẩy mạnh thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc, nhất là Kết luận 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận.