Trong bối cảnh thời đại công nghệ số, giới trẻ ít mặn mà với các giá trị văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, tại Quảng Ngãi, một số trường học đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong việc đưa văn hóa cồng chiêng, múa xoang vào trường học, giúp tất cả học sinh không chỉ các em đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ hơn về những nét văn hóa độc đáo của dân tộc.
Khơi dậy niềm đam mê với văn hóa truyền thống
Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào là một trường ở vùng khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, với gần 500 học sinh đang theo học, trong đó có trên 97% là học sinh dân tộc thiểu số, chủ yếu là Xơ Đăng. Từ 5 năm nay, nhà trường đã xây dựng lớp dạy cồng chiêng theo hình thức ngoại khóa, với sự giảng dạy trực tiếp từ Nghệ nhân ưu tú A Thu - Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian duy nhất của xã Kon Đào.
Nghệ nhân Ưu tú A Thu cho biết, khi được Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm mời về giảng dạy cồng chiêng cho học sinh, ông cảm thấy rất vui. Đây không chỉ là cơ hội để ông trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc cho thế hệ trẻ, còn khẳng định sự quan tâm của ngành giáo dục đối với việc truyền dạy văn hóa cho các em khi vẫn còn đang ngồi trên ghế nhà trường. Hiện, Nghệ nhân Ưu tú A Thu đang giảng dạy trực tiếp cho học sinh khối 6, 7 và 8 của trường, với gần 40 em theo học.
“Các em rất đam mê với cồng chiêng và học rất nhanh. Khi văn hóa truyền thống đang dần bị mai một, việc Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm mở lớp học cồng chiêng như thế này truyền dạy cho các em, để các em biết về văn hóa cồng chiêng của người Xơ Đăng là rất thiết thực. Tôi hy vọng sẽ còn nhiều trường mở lớp như thế này nữa để văn hóa truyền thống được lan tỏa đến các em học sinh”, Nghệ nhân Ưu tú A Thu giãi bày.
Em A Phong, lớp 8A4, Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm chia sẻ, khi được tham gia lớp học em thấy rất vui. Nghệ nhân ưu tú A Thu đã giảng dạy tận tình, giúp em và các bạn hiểu rõ về cồng chiêng và nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng. Đến nay, em đã có thể trình diễn được các bài chiêng đơn giản như Giã gạo, Mừng lúa mới và tham gia vào các lễ hội của trường, của thôn và của xã.
Cô Nguyễn Thị Hợp, Phó hiệu trưởng Trường Trung học Cơ sở Đặng Thùy Trâm, xã Kon Đào cho biết, việc đưa cồng chiêng vào dạy ngoại khóa trong trường học là một mô hình giáo dục di sản văn hóa thiết thực, giúp cho học sinh tiếp cận với các nét văn hóa truyền thống một cách trực quan, sinh động. Nhờ vào sự giảng dạy của Nghệ nhân Ưu tú A Thu, các em được khơi dậy niềm đam mê bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Theo cô Nguyễn Thị Hợp, trong cuộc sống hiện đại, xu hướng âm nhạc có thể thay đổi theo thời gian, nhưng với cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi nói riêng, ở khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên nói chung, âm hưởng từ văn hóa cồng chiêng không thể thay đổi. Đó là lý do để nhà trường đưa cồng chiêng trở thành một môn học ngoại khóa. Đặc biệt, khi nhà trường nêu ý tưởng và trao đổi với các trưởng thôn, tất cả đều đồng ý và hỗ trợ các bộ cồng chiêng để tập luyện cho các em; các phụ huynh cũng rất đồng tình, ủng hộ. Nhờ đó, từ năm 2021 đến nay, hàng chục học sinh của nhà trường đã có thể tham gia vào các đội cồng chiêng của tỉnh, của huyện Đăk Tô (cũ) để đi trình diễn tại nhiều nơi trong và ngoài tỉnh.
“Việc đưa cồng chiêng vào giảng dạy mang nhiều giá trị to lớn, vừa phát huy được giá trị của di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, vừa khơi dậy niềm đam mê của học sinh với văn hóa truyền thống. Bên cạnh đó, còn giúp các em giảm nguy cơ chịu ảnh hưởng xấu, độc từ các thiết bị điện tử trong thời đại công nghệ như hiện nay. Điều này cũng góp phần giúp cho cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ có một thế hệ trẻ đầy tài năng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống”, cô Nguyễn Thị Hợp nói.
Kể cho thế hệ mai sau về hành trình của di sản văn hóa phi vật thể
Từ năm 2020, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình, tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng đội cồng chiêng, múa xoang trong chính học sinh của trường. Với tỷ lệ hơn 60% là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là J’Rai và Hà Lăng (một nhánh của dân tộc Xơ Đăng), giai đoạn đầu, nhà trường đã mời các nghệ nhân trong các làng đến truyền dạy cho các em. Sau khi có được đội nghệ nhân, các thế hệ học sinh trong trường sẽ tự truyền dạy cho nhau. Đến nay, đội cồng chiêng - xoang của trường đã có hơn 70 học sinh; trong đó đội cồng chiêng có 20 em, đội múa xoang hơn 50 em.
Thầy Võ Hoàng Sơn, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình cho biết, thời gian đầu thành lập, đội cồng chiêng – xoang của trường cũng gặp nhiều khó khăn. Đa số các em là đồng bào dân tộc thiểu số nên rụt rè, nhút nhát, không dám thể hiện khả năng. Bên cạnh đó, việc các em chưa thực sự mặn mà với văn hóa truyền thống cũng khiến việc phát triển đội gặp nhiều trở ngại.
Tuy nhiên, với sự quyết tâm của thầy và trò nhà trường, sự hỗ trợ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, đặc biệt là sự đồng lòng, ủng hộ của các già làng, trưởng thôn, người có uy tín và phụ huynh, đội cồng chiêng – xoang đã dần hình thành, ổn định và phát triển cả về số lượng, chất lượng. Đến nay, đội không chỉ trình diễn, giao lưu với học sinh trong trường, còn tham gia các hoạt động trải nghiệm ở các trường học khác tại các xã lân cận.
Đơn cử, sáng 28/3, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn (xã Sa Thầy) tổ chức hoạt động trải nghiệm khối 5 với chủ đề “Giới thiệu nhạc cụ truyền thống một số dân tộc thiểu số: Bảo tồn, phát huy không gian văn hóa cồng chiêng”. Để triển khai hoạt động này, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn đã mời đội cồng chiêng - xoang của Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở xã Sa Bình đến trình diễn, giao lưu và chia sẻ về văn hóa cồng chiêng cho học sinh khối lớp 5 của trường.
Cô Vũ Thị An, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn chia sẻ, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhà trường rất quan tâm đến hoạt động trải nghiệm cho học sinh. Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm, tìm hiểu về văn hóa cồng chiêng - múa xoang giúp cho các em biết một số nhạc truyền thống của một số dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi; biết mô tả, chia sẻ về hình dáng, cách chơi và âm sắc của một số nhạc cụ truyền thống. Cùng với đó, các em có hiểu biết ban đầu về không gian văn hóa cồng chiêng; biết tham gia vào một số hoạt động múa xoang; biết cách mô tả, chia sẻ cảm nhận và đúc rút bài học sau quá trình trải nghiệm thực tế.
“Việc tổ chức không chỉ xây dựng không gian học tập vui vẻ, nghiêm túc, tăng cường sự kết nối giữa học sinh, giáo viên và cộng đồng, còn giúp học sinh yêu mến và tự hào về mảnh đất và con người Quảng Ngãi; có ý thức gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”, cô Vũ Thị An nói.
Em Vũ Đình Kiên, học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học và Trung học Cơ sở Lê Quý Đôn cho biết, em rất vui khi được các anh chị của đội cồng chiêng – xoang giới thiệu về nhạc cụ truyền thống của vùng đất Tây Nguyên. Bên cạnh đó, được tham gia trải nghiệm trực tiếp đánh cồng chiêng và múa xoang, giúp em và các bạn cảm thấy vui và bổ ích sau những giờ học tập căng thẳng.
Có thể khẳng định, việc đưa văn hóa cồng chiêng vào trường học tại các trường ở vùng núi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi đã và đang mang lại nhiều giá trị to lớn, không chỉ tạo ra sân chơi ngoại khóa bổ ích cho học sinh, còn góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, giúp cho tiếng cồng, chiêng mãi ngân vang giữa đại ngàn; để điệu múa xoang mãi được nhịp nhàng bên ánh lửa, cùng kể cho thế hệ mai sau về hành trình của di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại./.
Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.
Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.
Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.
Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.
Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.
Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.
Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.
Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.
Ở: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.
Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.
Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.
Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.
Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.
Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.
Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.
Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...
Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.
Theo cema.gov.vn