“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại

Điệu múa xòe truyền thống của người Thái. Ảnh: Trọng Đạt-TTXVN
Điệu múa xòe truyền thống của người Thái. Ảnh: Trọng Đạt-TTXVN

Trong khuôn khổ kỳ họp lần thứ 16 của Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, diễn ra từ ngày 13 đến 18/12/2021 tại Paris (Pháp), hồ sơ Nghệ thuật Xòe Thái đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại cùng với 48 hồ sơ khác.

Việc ghi danh hồ sơ Nghệ thuật Xòe Thái là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại đã khẳng định sự đánh giá cao của quốc tế đối với những giá trị văn hóa của Việt Nam, tăng cường sự hiện diện của Việt Nam trên bản đồ văn hóa phi vật thể của thế giới, đồng thời góp phần quảng bá cho các mục tiêu phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản mà UNESCO đang thúc đẩy.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 1 2013 diễn viên quần chúng thị xã Nghĩa Lộ trình diễn màn đại xòe cổ lớn nhất Việt Nam. Ảnh: Thanh Hà - TTXVN

Nghệ thuật xòe Thái - hồn cốt văn hóa của người Thái ở Tây Bắc

Nghệ thuật Xòe Thái là loại hình múa truyền thống đặc sắc, chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Thái ở 4 tỉnh Tây Bắc của Việt Nam. Tiêu biểu ở các huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; huyện Mường Lay, tỉnh Điện Biên; huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 2

Múa xòe trong dịp Tết cổ truyền dân tộc của người dân bản Pát, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La. Ảnh: Điêu Chính Tới – TTXVN

Nói đến người Thái là ai cũng nghĩ đến các biểu đạt văn hóa mang tính cộng đồng cao như xòe, cũng như nói đến xòe người ta biết đến là di sản của người Thái ở Tây Bắc. Nghệ thuật xòe Thái tượng trưng cho cái đẹp, chứa đựng các giá trị nghệ thuật vũ đạo, âm nhạc, ca hát, trang phục, ẩm thực và ứng xử văn hóa của cộng đồng người Thái.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 3Các nghệ nhân biểu diễn màn đại xòe tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Ảnh: Đức Tưởng-TTXVN

Không ai biết rõ nghệ thuật múa Xòe có từ bao giờ, chỉ biết từ xa xưa, người Thái Mường Lò đã có câu hát: “Không xòe không vui/ Không xòe cây ngô không ra bắp/ Không xòe cây lúa không trổ bông/ Không xòe trai gái không thành đôi.” Vì thế mà chẳng cuộc vui, ngày hội nào của người Thái vắng bóng những điệu xòe, dù là ngày vui nhỏ của mỗi gia đình hay những ngày lễ lớn của bản làng.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 4Màn đại xòe tại Lễ khai mạc Tuần Văn hóa – Du lịch Mường Lò và Lễ hội Khám phá Danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải năm 2017 (Nghĩa Lộ, Yên Bái). Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 5Màn đại xòe Lễ hội VH, DL Mường Lò và khám phá Danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải năm 2019. Ảnh: TTXVN

Từ xa xưa, trong cuộc mưu sinh để tồn tại và phát triển, người Thái luôn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, anh dũng đấu tranh chống lại thú dữ. Mỗi khi hoàn thành một công việc trọng đại, chinh phục được thiên nhiên hay chiến thắng kẻ thù là thú dữ mọi người lại nắm tay nhau không phân biệt nam, nữ, già, trẻ và nhảy múa ăn mừng quanh đống lửa. Hoạt động ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần, dần dần được nâng lên cả động tác lẫn ý thức, hình thành lên các điệu xòe. Với người Thái, múa xòe như một phần cuộc sống, như cơm ăn, nước uống hằng ngày. Xòe không chỉ là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào dân tộc Thái, mà đã trở thành nét văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 6Các cô gái Thái (Đông Sang, Mộc Châu, Sơn La) tham gia điệu xoè truyền thống. Ảnh: Phương Hoa – TTXVN

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hiền, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, về cơ bản, Xòe có ba loại chính: Xòe nghi lễ, Xòe biểu diễn và Xòe vòng. Các điệu Xòe nghi lễ và Xòe biểu diễn thường kết hợp với đạo cụ, vì thế được gọi theo tên các đạo cụ như Xòe khăn, Xòe nón, Xòe quạt, Xòe sạp, Xòe nhạc, Xòe gậy, Xòe hoa... Xòe vòng là màn đồng diễn mà người Xòe nối thành vòng tròn trong sự hòa đồng với tất cả mọi người, đây cũng là điệu Xòe phổ biến nhất.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 7Điệu múa xòe truyền thống của người Thái. Ảnh: Trọng Đạt-TTXVN

Động tác cơ bản của Xòe là tay giơ lên cao, mở ra, hạ xuống, nắm lấy tay người bên cạnh rồi cùng bước chân nhịp nhàng, ngực hơi ưỡn, lưng ngả về phía sau. Các nhạc cụ tính tẩu, kèn loa, khèn bè, trống, chiêng, chũm choẹ, pí pặp, bẳng bu, mák hính... đệm theo nhịp chẵn 2/4, 4/4 trong những âm điệu đặc trưng của những quãng 2 trưởng, 3 trưởng, thứ, quãng 4,5 đúng. Những cử động uyển chuyển hòa với âm nhạc, bài hát, trang phục trong không gian nghi lễ thể hiện một hệ thống tín ngưỡng của người Thái; đồng thời các cuộc vui có Xòe vòng còn thể hiện tính cởi mở, gắn kết, thân thiện của một loại hình nghệ thuật cộng đồng.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 8Nghệ thuật "Xòe khăn", một trong 6 điệu xòe cổ được cộng đồng dân tộc Thái huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái trình diễn. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Thống kê cho thấy, người Thái có đến trên 30 điệu xòe, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ 6 điệu xòe cổ (6 điệu xòe cơ bản). Đó là điệu xòe “Khắm khăn mơi lảu” - nâng khăn mời rượu; “Phá xí” - bổ bốn; “Đổn hôn” - tiến lùi; “Nhôm khăn” - tung khăn; “Ỏm lọm tốp mư” - vòng tròn vỗ tay và điệu “Khắm khen” - nắm tay.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 9Màn xòe cộng đồng kết thúc Lễ hội Hết Chá của người Thái trắng ở bản Áng, Mộc Châu, Sơn La thu hút sự tham gia của nhiều du khách. Ảnh: Xuân Trường – TTXVN
“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 10Lễ hội xòe Chá ở xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Hội Xòe Chá mang tính nghệ thuật nhân văn sâu sắc. Ảnh: Phương Hoa – TTXVN

Chỉ một động tác, một dáng đi, cách đứng, cách xếp đội hình, cách chuyển động cũng là những cung bậc sắc thái, những ý nghĩa khác nhau mà điệu xòe thể hiện. Như điệu xòe “Nhôm khăn” sôi động, với chiếc khăn thổ cẩm rực rỡ quàng qua cổ, hai tay tung khăn theo nhịp trống thể hiện sự tươi vui, phấn khởi khi mùa màng bội thu; hay điệu xòe “đổn hôn” mang ý nghĩa, dù cuộc sống có lúc nghiêng ngả, sóng gió nhưng tình người vẫn vẹn nguyên.

Âm nhạc cho múa Xòe cũng thể hiện quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa, khi tiếng trống là âm thanh của mặt đất, tiếng cồng là sự vang vọng của bầu trời, tiếng chũm chọe là biểu tượng “phồn thực” của muôn loài.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 11Điệu múa Xòe vòng trong lễ hội "Sết Boóc Mạy" của cộng đồng dân tộc Thái tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Điệu xòe giúp con người quên đi những mệt nhọc của cuộc sống thường nhật, để rồi sau hội xòe, trở lại với cuộc sống đời thường, con người thấy yêu lao động, yêu cuộc sống hơn. Tham gia múa xòe, các đôi trai gái cũng được gần nhau hơn, có dịp để thể hiện tình cảm riêng tư của mình…

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 12Hơn 1.500 người biểu diễn các điệu xòe Thái cổ tại Lễ khai mạc Tuần văn hóa, du lịch Mường Lò năm 2015 và đón Bằng chứng nhận "Xòe Thái Mường Lò - Nghĩa Lộ là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia". Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN

Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật Xòe Thái

Với những giá trị về tinh thần không thể phủ nhận qua thời gian, đến nay nghệ thuật Xòe Thái hiện vẫn đang được duy trì và phát triển, không chỉ trong cộng đồng dân tộc Thái mà còn có sức sống mãnh liệt và lan tỏa tới nhiều dân tộc khác tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 13Xòe Thái là phong trào văn hóa văn nghệ được các bản ở ở Xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu phát triển mạnh. Ảnh: Thanh Hà – TTXVN

Là một vũ điệu dân gian, Xòe Thái đã được sự quan tâm và phát triển thành một loại hình mang tính biểu diễn. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hiền, nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, các Câu lạc bộ Xòe Thái từ những năm 1990 đến nay phát triển mạnh, năm 2019 tỉnh Yên Bái có khoảng 180 đội; Điện Biên có 1.273 đội; Lai Châu hơn 100 đội và Sơn La khoảng 1.700 đội, tạo nên một lực lượng hùng hậu trong việc trình diễn, trao truyền và sinh hoạt văn hóa.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 14Tỉnh Sơn La bảo tồn, phục dựng và giữ gìn điệu xòe cổ, dân tộc Thái trong Lễ hội " Xên Mường" (lễ cúng mường đầu năm) ở xã Hua La, thành phố Sơn La. Ảnh: Điêu Chính Tới – TTXVN

Một số nghệ nhân dân gian và nhà nghiên cứu đã ghi chép và xuất bản tài liệu về quá trình sáng tạo, phát triển các điệu Xòe, cách thức Xòe, bối cảnh diễn xướng và những loại hình văn hóa liên quan. Các nghệ nhân và những thành viên cộng đồng am hiểu về Xòe Thái tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ bắt đầu từ các lớp mầm non, trường phổ thông, trường nghệ thuật...

Bên cạnh đó, Xòe Thái cũng được sự bảo trợ và hỗ trợ bằng pháp luật của Chính phủ Việt Nam. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh Nghệ thuật Xòe Thái trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2013; các địa phương đã cam kết bảo vệ Xòe với các đề án và đưa Xòe vào trình diễn trong các ngày hội văn hóa dân tộc. Các CLB Xòe cũng nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương cho việc tập luyện, mua nhạc cụ để hiện thực hóa thực hành một cách bài bản hơn. Việc thành lập các CLB dưới sự cho phép của chính quyền, các ban ngành liên quan thể hiện sự quyết tâm bảo tồn, lưu giữ và phát triển di sản văn hóa này.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 15Điệu xòe Thái khai mạc Lễ hội đua thuyền đuôi én lần thứ 3, năm 2017 và Ngày hội thể thao các dân tộc thị xã Mường Lay, Điện Biên. Ảnh: Xuân Tư – TTXVN

Thời gian qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương có nghệ thuật Xòe đều tổ chức múa Xòe trong các sự kiện văn hóa, lễ hội truyền thống của địa phương, lồng ghép chương trình nghệ thuật trình diễn dân gian. Như tỉnh Điện Biên, múa Xòe là một “sản phẩm du lịch” thu hút khách tham quan trong và ngoài nước không những làm phong phú thêm đời sống văn hóa Thái mà còn góp phần mang lại nguồn thu nhập cho bà con trong dịch vụ du lịch cộng đồng…

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 16Du khách nước ngoài tham gia điệu xòe tối thứ bảy hàng tuần tại chợ đêm Bắc Hà (Lào Cai). Ảnh: Thanh Hà – TTXVN

Việc Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh Xòe Thái vào Danh sách Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của loại hình múa truyền thống đặc sắc này. Theo Ủy ban liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, hồ sơ Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam đã đáp ứng toàn bộ 5 tiêu chí do UNESCO đề ra, đó là: di sản văn hóa phi vật thể theo định nghĩa trong Công ước 2003; việc ghi danh sẽ góp phần đảm bảo tính phổ biến của Xòe Thái và nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể; các biện pháp bảo tồn được đề xuất có khả năng bảo tồn và phát huy di sản; đã được đề cử với sự tự nguyện và đồng thuận của cộng đồng có liên quan; đã được đưa vào một danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật của quốc gia thành viên đề cử di sản như được quy định trong Công ước 2003.

“Nghệ thuật Xòe Thái” - Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ảnh 17

Minh Duyên

(TTXVN)
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc xứ Lạng

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn, Trung tâm Văn hóa tỉnh tổ chức Chương trình giao lưu và Hội hát then, sli, lượn dân tộc Nùng, Tày... tỉnh Lạng Sơn. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm hội tụ, lan tỏa sắc màu văn hóa dân tộc, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc xứ Lạng gắn với phát triển du lịch, nâng cao đời sống nhân dân...

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Trao giải biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk

Ngày 10/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Lễ trao giải cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) nhận diện thương hiệu tỉnh Đắk Lắk và Chương trình nghệ thuật chủ đề “Buôn Ma Thuột - Khúc tráng ca tự hào” nhân kỷ niệm 51 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975 - 10/3/2026), chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống trò chơi dân gian pháo đất

Ngày 7/3, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng tổ chức Liên hoan pháo đất thành phố lần thứ nhất năm 2026. Liên hoan quy tụ trên 200 pháo thủ đến từ 7 xã gồm: Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thịnh, Tân Kỳ, Tân An và Trường Tân - những địa phương có truyền thống chơi pháo đất lâu đời của Hải Phòng.

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Quảng Trị: Độc đáo lễ hội đập trống người Ma Coong

Tối 4/3 (tức ngày 16 tháng Giêng âm lịch), tại bản Cà Roòng (xã Thượng Trạch, Quảng Trị) đã rộn ràng diễn ra lễ hội đập trống của người Ma Coong nhằm cầu mưa thuận gió hòa, bản làng ấm no, lễ hội độc đáo này đã thu hút đông đảo bà con địa phương và du khách gần xa.

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Sôi nổi Hội Xuân Liêng Nung - Âm vang đại ngàn tại Lâm Đồng

Trong 2 ngày 26 - 27/2, tại Nhà Triển lãm Nhạc cụ truyền thống, Tổ dân phố N’Jriêng, phường Đông Gia Nghĩa (tỉnh Lâm Đồng), UBND phường Đông Gia Nghĩa phối hợp với các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức Hội Xuân Liêng Nung 2026 với chủ đề “Âm vang đại ngàn”. Đây là hội xuân truyền thống được tổ chức hằng năm của các dân tộc thiểu số bản địa phía Tây tỉnh Lâm Đồng (trước đây là tỉnh Đắk Nông cũ).

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Đắk Lắk - Vượt sóng ra khơi, vươn tầm cao mới

Ngày 27/2, tại Di tích lịch sử quốc gia đình Lạc Giao (tỉnh Đắk Lắk), Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Ngày Thơ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk lần thứ 47.

Về Triều Khúc xem trai giả gái trong điệu múa cổ

Về Triều Khúc xem trai giả gái trong điệu múa cổ

Điệu múa cổ “Con đĩ đánh bồng” là điểm nhấn đặc biệt của lễ hội truyền thống làng Triều Khúc (phường Thanh Liệt, Hà Nội) đang diễn ra từ ngày 25 - 28/2/2026 (từ 9 - 12 tháng Giêng Bính Ngọ). 

Đặc sắc lễ hội Lùng tùng ở Than Uyên (Lai Châu)

Đặc sắc lễ hội Lùng tùng ở Than Uyên (Lai Châu)

Những ngày đầu xuân, trong không khí vui xuân của năm mới, đồng bào Dân tộc Thái ở xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu lại tưng bừng tổ chức Lễ hội Lùng Tùng. Đây là lễ hội xuống đồng truyền thống, mở đầu cho một mùa sản xuất mới với mong muốn cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và mọi điều tốt đẹp.

Độc đáo lễ hội Mường Khô của đồng bào Mường xứ Thanh

Độc đáo lễ hội Mường Khô của đồng bào Mường xứ Thanh

Sáng 25/2 (tức mùng 9 tháng Giêng), tại sân vận động thôn Muỗng Do, xã Điền Lư, tỉnh Thanh Hóa đã diễn ra lễ hội Mường Khô nhằm tri ân Quận công Hà Công Thái và các vị tướng dòng họ Hà đã có công dẹp loạn ở vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đồng thời cầu cho nhân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt.

Kỵ mã thồ hàng tranh tài Hội đua ngựa truyền thống gò Thì Thùng

Kỵ mã thồ hàng tranh tài Hội đua ngựa truyền thống gò Thì Thùng

Ngày 25/2, tại Khu di tích lịch sử quốc gia Địa đạo gò Thì Thùng (xã Tuy An Tây), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội đua ngựa truyền thống chào đón xuân mới. Đây là lễ hội độc đáo của tỉnh Phú Yên cũ được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng hằng năm.

Tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026

Tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026

Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch triển khai Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai năm 2026, trong đó điểm nhấn là tổ chức Liên hoan cồng chiêng quốc tế tại tỉnh Gia Lai vào quý IV/2026, nhằm quảng bá hình ảnh văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên đến bạn bè trong và ngoài nước.

Lễ hội Khai hạ năm 2026: Điểm nhấn du lịch văn hóa gắn với bốn vùng Mường lớn

Lễ hội Khai hạ năm 2026: Điểm nhấn du lịch văn hóa gắn với bốn vùng Mường lớn

Ngày 24/2, tại sân vận động xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ diễn ra Lễ hội Khai hạ (hay còn gọi là lễ xuống đồng, lễ mở cửa rừng) - lễ hội dân gian truyền thống lớn nhất của người Mường. Đây là hoạt động văn hóa, tín ngưỡng gắn liền với bốn vùng Mường lớn: Bi, Vang, Thàng, Động. Lễ hội là dịp để người dân tưởng nhớ những người đã có công mở đất, lập mường và tôn kính các vị thần linh đã che chở cho bản làng.

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Du Xuân Đất Tổ: Một hành trình, nhiều điểm đến hấp dẫn

Trong không khí hân hoan những ngày đầu năm Bính Ngọ 2026, du lịch Phú Thọ ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực, khởi đầu một năm mới với nhiều kỳ vọng bứt phá. Dòng người hành hương, du xuân về các điểm đến tâm linh, sinh thái, nghỉ dưỡng trên địa bàn tỉnh tăng mạnh, tạo nên bức tranh sôi động, rộn ràng ngay từ những ngày đầu năm.

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Nguồn lực nội sinh giúp Khánh Hòa phát triển bền vững

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra đối với Khánh Hòa không chỉ dừng ở việc khai thác hiệu quả các lợi thế về kinh tế biển, du lịch, đô thị mà còn đòi hỏi khơi dậy, phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh từ văn hóa và con người. Đây được xác định là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và tính bền vững của quá trình phát triển trong giai đoạn mới.

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Sắc màu mới trong đời sống đồng bào dân tộc Cống ở Lai Châu

Những căn nhà sàn san sát, đường bê tông khang trang, bản Táng Ngá của đồng bào dân tộc Cống ở xã Mường Mô (tỉnh Lai Châu) giờ đã "thay da đổi thịt". Người Cống vừa làm kinh tế, vừa bảo tồn giá trị văn hóa của mình trên mảnh đất các cộng đồng dân tộc Lai Châu.

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Gieo mùa nơi rừng thẳm

Những ngày đầu xuân, khi sương mỏng còn quẩn quanh sườn núi, rừng già phía thượng nguồn khoác lên mình vẻ trầm mặc, đồng bào Dao đỏ lại bước vào một nghi lễ quan trọng bậc nhất trong năm - Lễ cầu mùa. Không rộn ràng như hội xuân miền xuôi, không ồn ào tiếng trống chiêng dồn dập, lễ cầu mùa của người Dao đỏ diễn ra lặng lẽ mà thiêng liêng, như một lời thì thầm gửi tới đất trời, núi rừng và tổ tiên, trước khi con người bắt đầu một chu kỳ canh tác mới.